lí luận văn học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Thanh Ngân
Ngày gửi: 09h:18' 12-12-2024
Dung lượng: 800.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Thanh Ngân
Ngày gửi: 09h:18' 12-12-2024
Dung lượng: 800.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LÍ LUẬN VĂN HỌC
PHẦN 1
I. VĂN HỌC - KHOA HỌC NGHIÊN CỨU VỀ VĂN CHƯƠNG
1. Văn chương là gì?
Trong vòng mấy chục năm lại đây hai khái niệm "Văn chương" và "Văn học" bị dùng
lẫn lộn. Cái gọi là Văn chương thì được dùng "Văn học" để thay thế. Còn cái gọi là "Văn
học" thì được dùng "Khoa Văn học " hay khoa "Nghiên cứu văn học" để thay thế.
Sự lẫn lộn này không đơn thuần là lẫn lộn và tên gọi mà, lắm khi, dẫn đến sự hiểu lầm
về bản chất.
Vậy, Văn chương là gì? Văn chương là khái niệm dùng để chỉ một ngành nghệ thuật nghệ thuật ngôn từ (chứ không phải khoa học). Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để
xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống.
2. Văn học là gì?
Văn học là khoa học nghiên cứu về văn chương. Nó lấy các hiện tượng văn chương
nghệ thuật làm đối tượng cho mình.
Sơ đồ về mối quan hệ giữa văn chương và văn học
như sau: Văn học ( Văn chương ( Ðời
sống
Quan hệ giữa văn chương và văn học là quan hệ giữa đối tượng và chủ thể, giữa nghệ
thuật và khoa học; văn chương (nghệ thuật) là đối tượng của văn học (khoa học).
Lấy văn chương làm đối tượng, khoa nghiên cứu văn chương có nhiệm vụ thông qua
việc nghiên cứu những hiện tượng văn chương để tìm hiểu nguyên nhân, qúa trình phát sinh
và phát triển của văn chương; tìm hiểu bản chất của văn chương, khám phá ra những qui
luật nội tại của văn chương; tìm hiểu sự liên quan giữa văn chương và các hiện tượng khác
của cuộc sống...
Khoa học nghiên cứu về văn chương hướng về nhiều lĩnh vực khác nhau của văn
chương để nghiên cứu, do đó, nó bao hàm trong bản thân mình rất nhiều ngành, nhiều bộ
môn khác nhau:
- Lí luận văn học.
- Lịch sử văn học.
- Phê bình văn học.
Ngoài 3 bộ môn chính trên, khoa nghiên cứu văn chương còn có một loạt các bộ môn
khác:
- Phương pháp luận nghiên cứu văn học.
- Tâm lí học văn học.
- Xã hội học văn học.
- Thi pháp học.
Phương pháp luận nghiên cứu văn học có nhiệm vụ xác lập một hệ thống lí luận về
phương pháp nghiên cứu văn chương.
Tâm lí học văn học có nhiệm vụ khảo sát những đặc điểm tâm lí trong hành động
sáng tác của tác giả và trong hoạt động thưởng thức của độc giả.
Xã hội học văn học xem xét hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn chương trong thực tiển,
tìm hiểu dư luận công chúng về các hoạt động văn chương.
Thi pháp học có nhiệm vụ nghiên cứu cấu trúc cùng các phương tiện và phương thức
thể hiện nội dung trong tác phẩm văn chương.
Ngoài những bộ môn trên, khoa nghiên cứu văn chương còn có hai bộ môn bổ trợ là
văn bản học và thư mục học.
Văn bản học có nhiệm vụ giám định tính chính xác của văn bản văn chương.
Thư mục học là bộ môn chuyên về lập thư mục theo những yêu cầu và mục đích nhất
định.
II- LÍ LUẬN VĂN HỌC LÀ GÌ?
1. Khái niệm.
Lí luận văn học là bộ môn có nhiệm vụ nghiên cứu những quy luật chung nhất của
văn chương. Nó có nhiệm vụ thông qua việc nghiên cứu hàng loạt tác phẩm Ðông - Tây,
Kim - Cổ, tìm ra các quy luật chung nhất, cái bản chất chung của văn chương - cái mà bất
kỳ tác phẩm nào được gọi là văn chương đều có sự tồn tại của nó.
Ví dụ: "Văn chương phản ánh đời sống bằng hình tượng", đó là đặc tính chung của
văn chương. Như vậy, những tác phẩm ngôn từ nào không phản ánh đời sống thì không gọi
là văn chương. Nhưng phản ánh cuộc sống mà không bằng xây dựng những hình tượng tức là "những bức tranh về đời sống" - thì cũng không phải là văn chương. Chẳng hạn:
những bài diễn ca như diễn ca điều lệ hợp tác xã nông nghiệp, hay những bài kiểu như: "Bài
ca hóa trị" là không thuộc văn chương nghệ thuật. Vì chúng chỉ là những đoạn văn vần
nhằm mục đích làm cho người ta dễ thuộc, dễ nhớ những điều khoản, những công thức.
Chúng không có tính hình tượng. Trong lúc đó, Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi là
bộ sử thi và là những bức tranh, là "tấm gương phản chiếu cách mạng Nga" những năm đầu
thế kỷ XIX. Hoặc bộ Tấn trò đời của Balzac là bức tranh hiện thực sinh động về xã hội tư
sản pháp cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Hoặc cuốn tiểu thuyết bằng thơ Truyện Kiều là
bức tranh hiện thực sinh động về xã hội Việt Nam, những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX. Chúng là những tác phẩm văn chương vì chúng phản ánh đời sống dưới dạng những
bức tranh về đời sống.
2. Nhiệm vụ của lí luận văn học.
Lí luận văn học có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Xác định bản chất xã hội của văn chương. Tức nó chỉ ra nguyên nhân hình thành và
thúc đẩy văn chương phát triển; mục đích phục vụ của văn chương là gì; văn chương có tác
dụng trong đời sống xã hội như thế nào...
- Xác định chức năng thẩm mĩ của văn chương. Trong quá trình cải tạo thế giới, đồng
hóa thế giới, con người có nhiệm vụ đồng hóa thế giới về mặt thẩm mĩ. Tức là chiếm lĩnh
các giá trị thẩm mĩ của thế giới và tạo ra cho thế giới các giá trị thẩm mĩ mới. Bất kỳ một
hoạt động sáng tạo nào của con người cũng có thứơ đo thẩm mĩ. Marx nói: con người sáng
tạo thế giới theo qui luật của cái đẹp. Vậy văn chương, cái đẹp mà nó biểu hiện và truyền
thụ cho con người là gì? Và biểu hiện bằng cách nào? cách biểu hiện có gì khác với các
hoạt động sáng tạo khác của con người? v.v...
- Xác định qui luật phản ánh hiện thực và đặc trưng của qui luật ấy. Giữa văn chương
và đời sống xã hội có quan hệ gì? Quan hệ đó như thế nào? Ðặc trưng của quan hệ đó được
biểu hiện ra làm sao?
- Xác định nguyên tắc xây dựng hình tượng và điển hình. Là một bộ môn nghệ thuật,
văn chương biểu hiện tính nghệ thuật của mình trước hết ở tính hình tượng. Tức là ở chỗ
phản ánh đời sống không phải trực tiếp khái quát thành công thức, định lí mà gián tiếp qua
hình tượng. Vậy hình tượng là gì? Giữa nó với công thức, định lí khoa học khác nhau ra
sao. Giữa nó - những bức tranh về đời sống - và chính đời sống giống và khác nhau như thế
nào? Tại sao? Bản chất, đặc trưng của hình tượng là gì?
- Xác định phương pháp phân tích tác phẩm văn chương với những tiêu chuẩn về nội
dung và hình thức. Phân tích tác phẩm là làm gì và làm như thế nào? Những tiêu chuẩn nào
được dùng làm căn cứ để phân tích.
- Xác định các loại và thể của văn chương. Thế giới văn chương rất phong phú, đa
dạng. Từ trước tới nay, từ Ðông sang Tây, ta không thể tìm thấy 2 tác phẩm nào giống nhau
hoàn toàn. Tuy vậy, sáng tạo nghệ thuật không phải là tùy tiện, tùy hứng, mà là một công
việc được tiến hành một cách có nguyên tắc, có căn cứ, theo một phương thức nhất định.
Những tác phẩm có cùng một phương thức phản ánh, một cách thức xây dựng tác phẩm sẽ
được xếp vào một loại nhất định và trong từng loại sẽ có các thể.
- Xác định qui luật phát sinh và phát triển các trào lưu và phương pháp sáng tác. Sáng
tác văn chương cũng như nhiều hoạt động nhận thức và sáng tạo khác của con người là phải
có phương pháp, có nguyên tắc. Lí luận văn học chỉ ra những nguyên tắc tư tưởng - nghệ
thuật bao quát của mối quan hệ giữa nghệ sĩ và thực tại đời sống trong quá trình xây dựng
hình tượng.
3. Lí luận văn học với một số ngành nghiên cứu văn học, nghệ thuật.
3.1. Lí luận văn học với Lịch sử văn học
Lịch sử văn học là bộ môn nghiên cứu lịch sử của văn chương. Nó có nhiệm vụ
nghiên cứu quá trình phát sinh và phát triển của các hiện tượng văn chương dân tộc để xác
đặc điểm, vai trò vị trí, ý nghĩa, tác dụng của chúng; vạch ra sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa
các nền văn chương , các giai đoạn văn chương, các hiện tượng văn chương.
Ví dụ: Quy luật phát sinh và phát triển của văn chương Việt Nam là gì? Sự giống
nhau và khác nhau giữa nó với văn chương các dân tộc khác ra sao?...
Giữa lí luận văn học và lịch sử văn học có mối quan hệ mật thiết. Cả hai đều có cùng
đối tượng là văn chương. Một bên sẽ nghiên cứu phương diện cấu trúc của văn chương, một
bên khác nghiên cứu phương diện sinh thành của văn chương. Nhưng chúng quan hệ qua
lại. Không có cái này thì sẽ không có cái kia và ngược lại. Cái này sẽ làm tiền đề cho cái kia
và ngược lại. Nghĩa là nếu không có quá trình phát triển của văn chương thì cũng không thể
có quy luật và đặc trưng chung của văn chương. Mặt khác, nếu không thấy được đặc trưng,
quy luật chung thì cũng không chỉ ra được quá trình phát triển của văn chương.
3.2. Lí luận văn học với Phê bình văn học
Phê bình văn học là bộ môn chuyên phát hiện, phân tích bình giá các hiện tượng văn
chương cụ thể mới ra đời theo quan điểm hiện đại.
Nó có nhiệm vụ cổ xúy những thành tựu văn chương theo một khuynh hướng nhất
định; đồng thời, công kích những khuynh hướng trái ngược. Phê bình văn học còn có nhiệm
vụ hướng dẫn, giúp đỡ, gợi ý cho người thưởng thức và vạch rõ ưu khuyết điểm cho người
sáng tác.
Ví dụ: Một tác phẩm văn chương nào đó mới xuất hiện, nhà phê bình có nhiệm vụ
xem xét, định giá cho nó; giá trị nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật đối với đương
đại và đối với truyền thống cũng như đối với thế giới ... Phê bình văn học và lịch sử văn học
đều đề cập tới những hiện tượng văn chương cụ thể. Nhưng phê bình văn học đứng trên
quan điểm hiện đại để bình giá một một hiện tượng văn chương mới ra đời. Cho nên, tính
hiện đại và tính thời sự là đặc điểm quan trọng của phê bình văn học. Còn lịch sử văn học,
tính lịch sử lại là đặc điểm quan trọng. Nghĩa là nó nghiên cứu những hiện tượng văn
chương đã xảy ra và trở nên ổn định. Người ta không thể tìm thấy gương mặt toàn diện của
một nền văn chương trong quá khứ hay trong hiện tại ở phê bình văn học, nhưng điều đó lại
là yêu cầu bậc nhất của lịch sử văn học.
Phê bình văn học, lịch sử văn học đề cập tới những hiện tượng cụ thể, lí luận văn học
nghiên cứu những quy luật chung nhất. Cho nên, phê bình văn học và lịch sử văn học sẽ
cung cấp những nhận định khái quát cho lí luận văn học. Ngược lại lí luận văn học được
xem như là bộ môn triết học cụ thể của văn chương. Nghĩa là nó cung cấp quan điểm, kiến
thức cho phê bình văn học. Cũng trên ý nghĩa ấy, về cơ bản, lí luận văn học được xem như
là môn phương pháp của phê bình văn học và lịch sử văn học.
3.3. Lí luận văn học và Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Ngày nay, trong quá trình phát triển của mình. Khoa nghiên cứu văn học hình thành
bộ môn mới: phương pháp luận nghiên cứu văn học.
Phương pháp luận nghiên cứu văn học có nhiệm vụ xác lập hệ thống những lí luận về
phương pháp nghiên cứu văn chương. Nó chỉ ra sự vận dụng những quan điểm Mác - xít,
những tri thức khoa học và
phương pháp nói chung vào nghiên cứu văn chương và chỉ ra và chỉ ra phương pháp có tính
chất đặc thù nghiên cứu văn chương.
Nghiên cứu văn học là một khoa học. Ðã là khoa học thì không thể có phương pháp.
Nếu không có phương pháp thì không thể có khoa học. Vì, phương pháp là con đường dẫn
đến kiến thức. Nhưng giữa nhà khoa học xã hội và nhà khoa học tự nhiên, con đường dẫn
đến kiến thức ấy là không giống nhau, mà là, có tính đặc thù. Hệ thống lí luận những
phương pháp nghiên cứu văn chương sẽ mở đường cho các nhà nghiên cứu văn học nhanh
chóng tiếp cận với chân trời khoa học.
So với lí luận văn học, phê bình văn học, lịch sử văn học… thì phương pháp luận là
khoa học của khoa học. Hay nói cách khác nó là loại siêu khoa học.
Các khoa học: lí luận văn học, lịch sử văn học, phê bình văn học… có phương pháp
luận của mình. Ðó là, phương pháp luận lí văn học, phương pháp luận lịch sử văn học,
phương pháp luận phê bình văn học…
Ðấy cũng là tất cả lí do vì sao lí luận văn học là một bộ môn khó, trừu tượng, rất mới
đối với học sinh phổ thông nhưng lại được bố trí vào học ngay đầu năm thứ nhất.
3.4. Lí luận văn học với Mĩ học
Theo Lukin, Mĩ học là khoa học về thẫm mĩ trong hiện thực, về bản chất và quy
luật của nhận thức thẩm mĩ và hoạt động thẩm mĩ của con người, là khoa học về các quy
luật chung của sự phát triển nghệ thuật [1]
Ðối tượng của mĩ học là toàn bộ những quy luật cơ bản và phổ biến nhất của đời
sống thẩm mĩ: tự nhiên, xã hội, nghệ thuật.
So với mĩ học, lí luậân văn học chỉ là một ngành của khoa nghiên cứu một loại nghệ
thuật. Mĩ học là khoa học phương pháp luận của lí luân văn học. Mĩ học sẽ trang bị cho
người nghiên cứu văn chương nói chung và lí luận văn học nói riêng những cơ sở lí luận,
những tiêu chí thẩm mĩ, sự định hướng cho lí luận văn học.
Chẳng hạn, một trong những vấn đề của lí luận văn học là lí giải về hình tượng văn
chương. Muốn lí giải được điều này, lí luân văn học phải xem mĩ học đã giải quyết vấn đề
hình tượng nghệ thuật như thế nào, rồi dựa vào đó mà lí giải hình tượng văn chương.
3.5. Lí luận văn học với Ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học nghiên cứu mọi hoạt động ngôn từ của con người để xác định đặc
điểm và quy luật của các ngôn ngữ dân tộc.
Như vậy, đối tượng của ngôn ngữ học là ngôn ngữ của dân tộc nói chung. Trong lúc
đó đối tượng của lí luân văn học là văn chương nghệ thuật. Lí luận văn học có đề cập đến
vấn đề ngôn ngữ, nhưng là ngôn ngữ văn chương nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây
dựng hình tượng nghệ thuật. Hơn nữa, ngôn ngữ đối với lí luận văn học chỉ là một trong các
phương diện của hiònh thức nghệ thuật.
III. LƯỢC SỬ LÍ LUẬN VĂN HỌC
Quá trình phát triển của lí luận văn học thực chất là quá trình phát triển của nhận thức
con người đối với văn chương. Quan hệ giữa lí luận văn học với sáng tác văn chương là
quan hệ nhân quả biện chứng. Lí luận văn học, vì vậy, đã hình thành từ lâu.
Lí luận văn học thực chất là vũ khí lí luận về văn chương, là vũ khí đấu tranh giai
cấp. Có thể khẳng định rằng lịch sử lí luận văn học là lịch sử đấu tranh và phát triển để đi
đến khẳng định của lí luận văn học duy vật cách mạng. Trên con đường đó, nó luôn luôn
đấu tranh chống lại lí luận văn học duy tâm, phản động
Lí luận văn học nhân loại đã hình thành từ lâu: phương Tây, chí ít. có từ thời Hilạp cổ
đại vói hai nhà lí luận văn học đáng lưu ý là Platông và Aristốt; phương Ðông (Trung Quốc)
có từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, với người đại biểu là Khổng Tử. Tuy vậy, chỉ có từ khi
chủ nghĩa Mác ra đời với thế giới
quan duy vật và phương pháp biện chứng, lí luận văn học Mácxít ra đời mới khắc phục
được tình trạng siêu hình, máy móc, không tưởng, thậm chí duy tâm, phản động trước đây
và đã trở thành một khoa học thực sự chân chính.
1. Lí luận văn học trước C. Mác
1.1. Lí luận văn học phương Ðông (Trung Quốc, Việt Nam).
Lí luận văn học phương Ðông sớm phát triển trong xã hội nô lệ ở Ai Cập, Ấn Ðộ,
Trung Quốc …
a. Lí luận văn học cổ Việt Nam
Cho đến nay, tư liệu về lí luận văn học cổ Việt Nam chưa sưu tập được đầy đủ.
Nhưng, dựa trên những tư liệu đã có, chúng ta có thể hình dung được rằng nền lí luận văn
học cổ Việt Nam đã có từ lâu (chí ít cũng từ thế kỷ thứ X, cùng thời với việc xuất hiện văn
chương thành văn) và khá phong phú. Sau đây là điểm qua đôi nét về những vấn đề văn
chương mà ông cha ta tập trung bàn đến:
- Về đối tượng và nội dung của văn chương:
Lê Quý Ðôn viết: "… thơ có ba điều chính : một là tình, hai là cảnh, ba
là sự …"[1] Nguyễn Văn Siêu viết: "Văn và đạo tuy khác tên, nhưng kỳ
thực văn do đạo mà ra."
- Giữa văn chương và đời sống có mối quan hệ
chặt chẽ: Phan Huy Chú: "Xem đến văn thì biết
được đạo."
Nhữ Bá Sĩ viết: "Văn chương là cái hiện trạng một thời đã làm nên nó."
- Về tính chất và chức năng của văn chương: Tính chân thực là yêu cầu quan trọng
nhất của văn chương.
Lê Quí Ðôn: "Ba trăm bài thơ trong "Kinh thi" phần nhiều là của nông dân, phụ nữ
làm ra, mà cũng có văn sĩ đời sau không theo kịp. Như thế là vì nó chân thực."[1]
Ngô Thời Nhậm cho rằng thơ "Chỉ cốt ở thuần hậu, giản dị, thẳng thắn, không giả dối,
xảo trá …"
- Chức năng nhận thức của thơ, văn được nhấn mạnh:
Ngô Thì Sỹ viết: "Văn chương có quan hệ đến đời mà đạo khiến người tài phải coi
việc giáo hóa là trước nhất."
Ngô Thì Nhậm viết: "… rốt cuộc chú trọng ngăn chặn đều xấu, bảo tồn điều hay mới
là đặc sắc chính của thơ vậy".
- Về tương quan giữa nội dung và hình thức: Nội dung và hình thức phải hài hòa,
nhưng nội dung chiếm vị trí ưu tiên.
Nguyễn Ðức Ðạt viết: "Ngày xưa, quân tử lấy lí làm xương cốt, lấy văn làm da thịt,
xương cốt nhiều quá thì cứng rắn, da thịt nhiều quá thì yếu ớt. Da thịt và xương cốt phải
xứng nhau thì hơn, không được thế thà cứng rắn còn hơn yếu ớt".
- Về kế thừa truyền thống và tiếp thu nước ngoài; chống tư tưởng nệ cổ:
Nguyễn Trường Tộ viết: "Ðến ngày nay còn nhiều người không lĩnh hội được cái sự
thể biến thiên qua đời xưa và đời nay mà lại cực lực ngợi khen thời thượng cổ, cho rằng đời
sau không theo kịp, họ làm gì cũng muốn trở về xưa. Bọn Tống nho làm cho nước nhà lầm
đường và trở thành ủy mĩ không thể chấn hưng được là vì thế. Thật rõ đời xưa mọi việc đều
kém xa đời nay. Kẻ trí giả không ngoái cổ về dỉ vãng mà chỉ chăm lo việc tương lai."[1]
- Chống nô lệ nước ngoài:
Hoàng Ðức Lương viết: "Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, lẽ đâu
không có quyển sách nào để làm gốc rễ, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời nhà Ðường,
như thế chẳng đáng thương xót lắm sao!"
Nguyễn Hành viết: "… cầu ở nước ngoài sao bằng tìm ở nước nhà".
- Về người sáng tác: Người sáng tác phải có tài năng, hiểu nhiều biết rộng.
Lê Hữu Kiều viết: "Người làm thơ hay được như vậy tất phải là người tài hoa, tính tứ
vượt bậc, bụng dạ chung đúc bao la mà lại là người có học vấn đầy đủ, kiến văn rộng rãi".
Người sáng tác phải lịch lãm, từng trải.
Phan Huy Vịnh: "Không ai là không nhờ du lịch muôn dặm mà sau đó mới tới được
cỏi thần diệu".
Còn rất nhiều vấn đề khác về văn chương mà cha ông ta bàn đến, nhưng không có
điều kiện để trình bày hết ở đây.
Trong điều kiện còn rất thiếu thốn về tư liệu nên chúng ta chưa thể đánh giá đúng
mức về qui mô và tính chất của di sản lí luận văn nghệ cổ của cha ông ta.
b. Lí luận văn học cổ Trung Quốc:
Lí luận văn học Trung Quốc cổ đại được thành tựu trong thời kỳ phong kiến. Do phát
triển trong khuôn khổ chế độ phong kiến, triết học Trung Quốc chưa đạt đến chủ nghĩa duy
vật triệt để và phép biện chứng, lê luáûn vàn hoüc Trung Quốc cổ dựa trên cơ sở ấy không
có một trình độ khoa học cao. Tuy vậy, trong mấy nghìn năm phong kiến, Trung Quốc xuất
hiện nhiều nhà lí luận văn nghệ đáng lưu ý: Khổng Tử, Lưu Hiệp, Bạch Cư Dị, Viên Mai …
Khổng Tử (551 - 479 trước CN) là người đặt nền móng cho mĩ học và lí luận văn học
Trung Quốc truyền thống trong suốt mấy nghìn năm. Với Luận ngữ của ông, khoa nghiên
cứu văn chương Trung Quốc được bắt đầu.
Ông có một quan niệm về văn chương khá toàn diện; văn chương gắn liền với xã hội,
với chính trị, với đạo đức và có giá trị nhận thức.
- "Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát phong tục, hòa hợp với mọi
người, bày tỏ nỗi sầu oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại được biết nhiều tiếng chim
muông cây cỏ" (Luận ngữ).
- "300 bài kinh thi, nói tóm lại một câu là không suy nghĩ bậy bạ" (Luận ngữ).
- "Ðọc thuộc 300 bài kinh thi, giao nhiệm vụ không làm được, sai đi sứ nước ngoài
không làm được, phỏng có ích gì". (Luận ngữ).
Lưu Hiệp (465 - 520) Với tác phẩm Văn tâm điêu long - công trình lí luận văn học
nổi tiếng, ảnh hưởng đến hàng nghìn năm sau, đã có một quan niệm toàn diện về văn
chương : bản chất, chức năng, nội dung, hình thức… của văn chương. Và đặc biệt là loại thể
văn chương, ông bàn khá tỉ mỉ.
- "Thơ giữ tính tình, mở đường cho cái đẹp cái tốt, ngăn giữ cái xấu".
- "Thời thịnh văn thịnh, thời suy văn suy".
- "Không nói đến văn chương có lẽ không phải là người lo việc lớn, văn thái phát ra
ngoài làm cho ở ngoài rực rỡ, tô vẽ thêm cái bản chất tốt đẹp, văn phải là cái để cai quản
quân nước; văn đâu phải là cái không làm cho chính mình rực rõ, nó còn làm cho cả nước
sáng chói".
Bạch Cư Dị (772 - 846), nhà lí luận xuất sắc đời Ðường. Có thể xem những bức thư
của ông gởi Nguyên Chẩn là cương lĩnh thơ ca đời Ðường. Quan niệm văn chương của ông
mang tính hiện thực và tính nhân dân sâu sắc: "Vị quân, vị thần, vị dân, vị sư, vị vật, nhi
tác, bất vị văn nhi tác".
Trong quan hệ giữa nội dung và hình thức, nội dung phải thống nhất với hình thức,
nội dung chiếm ưu tiên so với hình thức. Ông có một định nghĩa khá lí thú về thơ "Căn tình,
miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa".
Viên Mai (1716 - 1797) có nhiều kiến giải về thơ khá cụ thể và sâu sắc, ông đề cao
tính hiện thực, tính kế thừa và sáng tạo, tính nhân dân của thơ ca. "Thơ khó ở chỗ chân thật,
mắt chưa thấy, chân chưa tới mà cứ miễn cưỡng làm ra thì chẳng khác nào phơi nắng dưới
mái hiên"; "Không học cổ nhân thì không có gì cả, hoàn toàn giống cổ nhân thì không tìm
đâu ra mình cả" ; "Ðàn bà, con gái, kẻ dốt nát quê mùa, thỉnh thoảng làm một vài câu cho
dù Lí Bạch, Ðỗ Phủ có sống lại cũng phải cúi đầu".
Cần lưu ý rằng: Trong lịch sử lí luận văn học Trung Quốc cổ, bên cạnh những nhà lí
luận với quan niệm văn nghệ mang tính nhân dân và tính hiện thực, luôn xuất hiện những
người mang những quan niệm về văn nghệ bảo thủ, duy tâm, phản động. Chẳng hạn:
- Trang Tử (369 - 286 trước CN) với thuyết "vô vi" và "tương đối" luận đã lí giải cái
đẹp là tương đối, là "bất khả tri".
- Hàn Dũ (786 - 824) chủ trương "văn dĩ minh đạo" và "đạo" theo ông là "Tiên vương
chi đạo".
- Chu Ðôn Di (1717 - 1073) thì cho rằng "văn dĩ tải đạo". "Văn là để chở đạo, cũng
như xe để chở đồ vật vậy. Bánh xe và càng xe được trang hoàng mà không dùng đến, đó là
trang hoàng phí công, huống chi là xe không?"
Tóm lại: Tư tưởng mĩ học và lí luận văn nghệ Trung Quốc phong kiến phát triển
trong một giai đoạn ngót 3000 năm. Tuy nhiều lúc đã vượt ra ngoài giới hạn của tư tưởng
chính thống để đạt được những luận điểm khả thủ. Song, về cơ bản, sự phát triển ấy là ở
trong khuôn khổ Khổng giáo và Lão giáo.
1.2.. Lí luận văn học phương Tây
Lí luận văn học phương Tây có một lịch sử phát triển khá lâu đời, phong phú và đạt
được những thành tựu rực rõ, đặc biệt có những đỉnh cao tiếp cận văn chương Mác xít
a. Lí luận văn học thời Hy Lạp - La Mã cổ đại.
Tư tưởng mĩ học, lí lwnj văn học Hy - La cổ đại đóng một vai trò rất quan trọng trong
quá trình phát triển cả về sau này. nhiều vấn đề quan trọng nhất về bản chất, vai trò xã hội
của văn nghệ đã được đặt ra. Học thuyết về sự bắt chước nghệ thuật đã nhấn mạnh sự tuỳ
thuộc của nghệ thuật đối với thế giới thực tại. Tư tưởng về ý nghĩa giáo dục của nghệ thuật
được phát triển rộng rãi. những vấn đề về loại hình loại thể, về nội dung và hình thức của
tác phẩm nghệ thuật cũng được giải quyết
Aristote (384-322 TCN), ngả theo con đường triết học duy vật, tư tưởng mĩ học, lí
luận văn học của Aristote là tư tưởng duy vật. Cuốn "Thi học" của ông có thể coi là công
trình tông hợp tư tưởng mĩ học, lí luậ văn học phương Tây cổ đại. Ông quan niệm cái đẹp
gắn liền với hiện thực khách quan. "Những hình thái chủ yếu của cái đẹp là trật tự trong
không gian và thời gian, là tính tương ứng và tính chính xác." [1]
Học thuyết về sự chắt chước của ông đã xem nghệ thuật như là một hành động sáng
tạo, không quy nghệ thuật vào sự sao chép máy móc tự nhiên. giản đơn. Aristote nhấn mạnh
vai trò nhận thức to lớn của sáng tạo nghệ thuật, do chỗ, nghệ thuật không phải bắt chước
cái đơn giản nhất mà là cái có thể xảy ra, nghệ thuật chú ý tập trung vào cái chung, cái hợp
qui luật chứ không phải cái đơn nhất, cái ngẫu nhiên. Aristote còn lí giải một cách sâu sắc
việc phân chia nghệ thuật ra thành ba loại: tự sự, trữ tình và kịch. Cách phân chia này đến
ngày nay vẫn còn ý nghĩa.
b. Lí luận văn học thời Trung cổ
Thời Trung cổ, triết học duy tâm chủ nghĩa chiếm địa vị thống trị, mĩ học và lí luận
nghệ thuật tiến bộ bị thần học duy tâm bóp nghẹt.
Augustin (354 - 430) là cha đẻ của giáo hội, cho rằng Chúa là nguồn gốc mọi cái đẹp
và Chúa là cái đẹp co quí nhất. ông cho rằng nghệ thuật không nên gợi lên một hứng thú gì
khác mà phải tìm hứng thú trong ý niệm gắn với Chúa.
NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA VĂN NGHỆ
*****
I.
II.
III.
NGUỒN GỐC CỦA VĂN NGHỆ
1.
Những quan niệm duy tâm, sai lầm về nguồn gốc văn nghệ
2.
Lao động là nguồn gốc của văn nghệ
VĂN CHƯƠNG LÀ MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI THUỘC THƯỢNG
TẦNG KIẾN TRÚC
1.
Văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng
2.
Tương quan giữa cơ sở hạ tầng với văn nghệ
VĂN NGHỆ VỚI CÁC HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI
1.
Văn nghệ với chính trị
2.
Văn nghệ với triết học
3.
Văn nghệ với khoa học
4.
Văn nghệ với đạo đức
Văn chương, cũng như các loại hình nghệ thuật khác, không phải là của cải vật chất
của xã hội, cũng không phải là một lực lượng trực tiếp trực tiếp sản sinh ra một giá trị vật
chất nào cho đời sống xã hội. Nhưng chúng ta sẽ không hình dung nổi một xã hội mà ở đó
không có sự tồn tại của văn chương nghệ thuật.. Chỉ bởi, văn chương nghệ thuật chiếm giữ
một vai trò cực kỳ to lớn trong đời sống tinh thần của con người. Ðể tồn tại và phát triển,
con người không chỉ cần "ăn ở" mà còn cần cả "múa hát". Ý thức được vai trò, giá trị của
văn nghệ trong đời sống của mình, con người từ xa xưa đã muốn tìm hiểu để nắm được bản
chất, quy luật, đặc trưng đặc điểm của văn nghệ hầu làm chủ nó, thúc đẩy nó phát triển.
Mối quan tâm trước nhất của con người đối với văn nghệ là nguồn gốc, bản chất của
nó.
I. NGUỒN GỐC CỦA VĂN NGHỆ
Tìm hiểu nguồn gốc của văn nghệ là tìm hiểu tác nhân chủ yếu đầu tiên nào đã làm
cho văn nghệ này sinh và phát triển. Tức là xác định khởi điểm những mâu chuẩn đối lập
nội tại và ngoại tại nào làm cho văn nghệ này sinh và phát triển.
Từ hàng nghìn năm nay, loài người đã có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn
gốc văn nghệ. Nhưng tựu trung, đều có thể quy về hai loại quan điểm: quan điểm duy tâm
và quan điểm duy vật về nguồn gốc văn nghệ.
1. Những quan niệm duy tâm, sai lầm về nguồn gốc
nghệ thuật.
a. Quan niệm tôn giáo về nguồn gốc nghệ thuật.
Các quan niệm tôn giáo về nguồn gốc nghệ thuật rất đa dạng nhưng đều thống nhất ở
một điểm là cho rằng : cái đã làm cho văn nghệ nảy sinh là một lực lượng siêu nhiên, thần
kỳ ngoài đời sống con người.
- Quan niệm thần thoại
Thần thoại Phương Ðông (Ấn Ðộ, Trung Quốc…) Thần thoại Phương Tây (Hy Lạp…) đều
giải thích nguồn gốc thơ ca là do các vị thần nhà trời tạo ra. Từ quan niệm các thần trên
thiên đình tạo ra nghệ thuật đã đưa đến quan niệm khá phổ biến trong sáng tác là "thần
hứng" , được nhiều người tán đồng. Theo quan niệm này thì các nghệ sĩ bỗng dưng cảm xúc
trào dâng đã sáng tác được những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời. Ấy chính là lúc "thần
hứng" đã nhập vào người họ, "nàng thơ" đã đến với họ. Chứng cớ là có nhiều tác phẩm
nghệ thuật tuyệt diệu ra đời trong những giấc mơ như các bản nhạc của Tác - ti - ni, của Sô
- panh …
- Thuyết ma thuật
Một quan niệm có tính chất tôn giáo nữa là thuyết ma thuật. Ma thuật là một hình
thức của tôn giáo nguyên thủy. Ma thuật là những nghi lễ nhằm tác động hư ảo vào tự nhiên
khi con người bất lực trước tự nhiên. Người nguyên thủy gán cho các hiện tượng tự nhiên
khó hiểu ma lực. Họ thường hay cầu nguyện, tế lễ, ca hát, nhảy múa để cầu mong sự phù hộ
của lực lượng siêu phàm nào đó. Chẳng hạn, người nguyên thủy cho rằng nhật thực là điềm
báo tai họa, vì vậy, phải nổi trống, chiêng lên để xua đuổi ác quỷ. Ðể cầu mong thần linh và
tạ ơn thần linh giúp đỡ trước và sau lúc săn bắt, họ có lễ cầu nguyện tế các thần. Tục đeo
móng vuốt, răng, da của các loài thú dữ là để làm bùa hộ mệnh. Một số học giả cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ
XX, tiêu biểu là Reinach ở Pháp và Nga, đã căn cứ vào nghi tiết phù chú của ma thuật
nguyên thủy để cho rằng nghệ thuật ra đời từ ma thuật.
Như đã nói, sai lầm cơ bản của quan niệm tôn giáo về nguồn gốc nghệ thuật là ở chỗ
cho rằng nghệ thuật nảy sinh do yếu tố siêu nhiên cách xa đời sống con người.
Việc các nhà nghệ thuật và khoa học sản sinh ra được những tác phẩm, những công
trình xuất sắc từ giấc mơ là có thật. Nhưng đó không phải do ma lực mà chính là do năng
lực của chính người sáng tác. Khoa học đã chứng minh rằng, trong khi ngủ một vùng nào
đó của bộ óc các nhà nghệ sĩ và khoa học vẫn hoạt động.
Ma thuật nguyên thủy là có thật. Người nguyên thủy do chưa làm chủ được tự nhiên
và bản thân mình trên thực tế, nên đã phải làm chủ nó, chiến thắng nó bằng ảo tưởng. Thế
giới quan thần linh chủ nghĩa đã chi phối mạnh mẽ đời sống người nguyên thủy. Thế giới
quan thần linh chủ nghĩa là sự phản ánh hư ảo trong đầu óc con người những lực lượng bên
ngoài thống trị họ, trong sự phản ánh đó những lực lượng trần thế mang hình thức các lực
lượng siêu phàm. Ðiều đó đã phản ánh tình trạng bất lực của con người trước các lực lượng
khủng khiếp và bí ẩn của tự nhiên.
Như vậy, tôn giáo ra đời là do con người khiếp nhược trước tự nhiên. Còn nghệ thuật,
như mọi người đều biết là phương tiện khẳng định cuộc sống. Nghệ thuật đưa lại cho con
người những cảm xúc trái ngược với tôn giáo. Hơn nữa, cần phải thấy rằng tôn giáo thời
nguyên thủy khác xa với tôn giáo trong xã hội có giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, tôn
giáo bị lợi dụng làm phương tiện ru ngủ và áp bức quần chúng. Thời nguyên thủy, đằng
trong bộ áo duy tâm ấy là cả hạt nhân thực tiễn: vì cuộc sống thực sự của chính người
nguyên thủy. Cầu nguyện tế lễ là mong cho các cuộc săn bắt đạt được kết quả hơn ; Ðeo
móng vuốt hổ, gấu là để mong có sức mạnh như chúng, là chiến tích; xâm mình là để ngụy
trang.
b. Quan niệm bản năng về nguồn gốc nghệ thuật.
- Thuyết bản năng du hí.
Ðây là thuyết duy tâm về nguồn gốc nghệ thuật thịnh hành và có ảnh hưởng nhất ở
Tây Âu. Kant (1724 - 1801), nhà triết học duy tâm chủ quan Ðức, cho rằng tác phẩm nghệ
thuật là một cứu cánh nội tại, không có mục đích ý nghĩa nào ngoài bản thân nó, nghệ thuật
là một trò chơi không vụ lợi. Schiller (1759 - 1805), nhà văn Ðức, cũng cho rằng đặc trưng
của cảm thụ thẩm mĩ là xu hướng tự do vui vẻ. Yếu tố kích thích thứ nhứt và quyết định của
sáng tác nghệ thuật là xu hướng du hí bẩm sinh của con người. Spencer (1820 - 1903), nhà
triết học và xã hội học Anh, bổ sung vào học thuyết của Schiller lí luận về sự phát tiết của
sinh lực thừa. Theo ông, ở động vật bậc cao và ở con người, sinh lực rất dồi dào, nó không
thể tiêu hao hết cho nhu cầu sinh tồn, phần dư thừa phải phát tiết ra ngoài. Con hổ vồ mồi,
con mèo chạy vờn theo cuộn len, con mèo vờn chuột… là những hình thức của sự tiêu hao
sinh lực thừa. Những cái đó là vô mục đích. Nghệ thuật ở mức độ cao hơn, nhưng xét nguồn
gốc thì thực chất cũng là một thứ trò chơi vô mục đích, là sự phát tiết sinh lực thừa.
Một số học giả duy vật dung tục lại dựa trên một số nhận xét của Darwin (1809 1882), nhà bác học sinh vật Anh về bản năng tự làm đẹp của động vật để đề ra thuyết bản
năng mỉ cảm ở con người. Bản năng mỉ cảm ở con người vốn là bản năng bẩm sinh, bản
năng sinh vật chứ không phải là ý thức xã hội.
Như vậy, tóm lại là, các ý kiến của Kant...
PHẦN 1
I. VĂN HỌC - KHOA HỌC NGHIÊN CỨU VỀ VĂN CHƯƠNG
1. Văn chương là gì?
Trong vòng mấy chục năm lại đây hai khái niệm "Văn chương" và "Văn học" bị dùng
lẫn lộn. Cái gọi là Văn chương thì được dùng "Văn học" để thay thế. Còn cái gọi là "Văn
học" thì được dùng "Khoa Văn học " hay khoa "Nghiên cứu văn học" để thay thế.
Sự lẫn lộn này không đơn thuần là lẫn lộn và tên gọi mà, lắm khi, dẫn đến sự hiểu lầm
về bản chất.
Vậy, Văn chương là gì? Văn chương là khái niệm dùng để chỉ một ngành nghệ thuật nghệ thuật ngôn từ (chứ không phải khoa học). Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để
xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống.
2. Văn học là gì?
Văn học là khoa học nghiên cứu về văn chương. Nó lấy các hiện tượng văn chương
nghệ thuật làm đối tượng cho mình.
Sơ đồ về mối quan hệ giữa văn chương và văn học
như sau: Văn học ( Văn chương ( Ðời
sống
Quan hệ giữa văn chương và văn học là quan hệ giữa đối tượng và chủ thể, giữa nghệ
thuật và khoa học; văn chương (nghệ thuật) là đối tượng của văn học (khoa học).
Lấy văn chương làm đối tượng, khoa nghiên cứu văn chương có nhiệm vụ thông qua
việc nghiên cứu những hiện tượng văn chương để tìm hiểu nguyên nhân, qúa trình phát sinh
và phát triển của văn chương; tìm hiểu bản chất của văn chương, khám phá ra những qui
luật nội tại của văn chương; tìm hiểu sự liên quan giữa văn chương và các hiện tượng khác
của cuộc sống...
Khoa học nghiên cứu về văn chương hướng về nhiều lĩnh vực khác nhau của văn
chương để nghiên cứu, do đó, nó bao hàm trong bản thân mình rất nhiều ngành, nhiều bộ
môn khác nhau:
- Lí luận văn học.
- Lịch sử văn học.
- Phê bình văn học.
Ngoài 3 bộ môn chính trên, khoa nghiên cứu văn chương còn có một loạt các bộ môn
khác:
- Phương pháp luận nghiên cứu văn học.
- Tâm lí học văn học.
- Xã hội học văn học.
- Thi pháp học.
Phương pháp luận nghiên cứu văn học có nhiệm vụ xác lập một hệ thống lí luận về
phương pháp nghiên cứu văn chương.
Tâm lí học văn học có nhiệm vụ khảo sát những đặc điểm tâm lí trong hành động
sáng tác của tác giả và trong hoạt động thưởng thức của độc giả.
Xã hội học văn học xem xét hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn chương trong thực tiển,
tìm hiểu dư luận công chúng về các hoạt động văn chương.
Thi pháp học có nhiệm vụ nghiên cứu cấu trúc cùng các phương tiện và phương thức
thể hiện nội dung trong tác phẩm văn chương.
Ngoài những bộ môn trên, khoa nghiên cứu văn chương còn có hai bộ môn bổ trợ là
văn bản học và thư mục học.
Văn bản học có nhiệm vụ giám định tính chính xác của văn bản văn chương.
Thư mục học là bộ môn chuyên về lập thư mục theo những yêu cầu và mục đích nhất
định.
II- LÍ LUẬN VĂN HỌC LÀ GÌ?
1. Khái niệm.
Lí luận văn học là bộ môn có nhiệm vụ nghiên cứu những quy luật chung nhất của
văn chương. Nó có nhiệm vụ thông qua việc nghiên cứu hàng loạt tác phẩm Ðông - Tây,
Kim - Cổ, tìm ra các quy luật chung nhất, cái bản chất chung của văn chương - cái mà bất
kỳ tác phẩm nào được gọi là văn chương đều có sự tồn tại của nó.
Ví dụ: "Văn chương phản ánh đời sống bằng hình tượng", đó là đặc tính chung của
văn chương. Như vậy, những tác phẩm ngôn từ nào không phản ánh đời sống thì không gọi
là văn chương. Nhưng phản ánh cuộc sống mà không bằng xây dựng những hình tượng tức là "những bức tranh về đời sống" - thì cũng không phải là văn chương. Chẳng hạn:
những bài diễn ca như diễn ca điều lệ hợp tác xã nông nghiệp, hay những bài kiểu như: "Bài
ca hóa trị" là không thuộc văn chương nghệ thuật. Vì chúng chỉ là những đoạn văn vần
nhằm mục đích làm cho người ta dễ thuộc, dễ nhớ những điều khoản, những công thức.
Chúng không có tính hình tượng. Trong lúc đó, Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi là
bộ sử thi và là những bức tranh, là "tấm gương phản chiếu cách mạng Nga" những năm đầu
thế kỷ XIX. Hoặc bộ Tấn trò đời của Balzac là bức tranh hiện thực sinh động về xã hội tư
sản pháp cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Hoặc cuốn tiểu thuyết bằng thơ Truyện Kiều là
bức tranh hiện thực sinh động về xã hội Việt Nam, những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX. Chúng là những tác phẩm văn chương vì chúng phản ánh đời sống dưới dạng những
bức tranh về đời sống.
2. Nhiệm vụ của lí luận văn học.
Lí luận văn học có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Xác định bản chất xã hội của văn chương. Tức nó chỉ ra nguyên nhân hình thành và
thúc đẩy văn chương phát triển; mục đích phục vụ của văn chương là gì; văn chương có tác
dụng trong đời sống xã hội như thế nào...
- Xác định chức năng thẩm mĩ của văn chương. Trong quá trình cải tạo thế giới, đồng
hóa thế giới, con người có nhiệm vụ đồng hóa thế giới về mặt thẩm mĩ. Tức là chiếm lĩnh
các giá trị thẩm mĩ của thế giới và tạo ra cho thế giới các giá trị thẩm mĩ mới. Bất kỳ một
hoạt động sáng tạo nào của con người cũng có thứơ đo thẩm mĩ. Marx nói: con người sáng
tạo thế giới theo qui luật của cái đẹp. Vậy văn chương, cái đẹp mà nó biểu hiện và truyền
thụ cho con người là gì? Và biểu hiện bằng cách nào? cách biểu hiện có gì khác với các
hoạt động sáng tạo khác của con người? v.v...
- Xác định qui luật phản ánh hiện thực và đặc trưng của qui luật ấy. Giữa văn chương
và đời sống xã hội có quan hệ gì? Quan hệ đó như thế nào? Ðặc trưng của quan hệ đó được
biểu hiện ra làm sao?
- Xác định nguyên tắc xây dựng hình tượng và điển hình. Là một bộ môn nghệ thuật,
văn chương biểu hiện tính nghệ thuật của mình trước hết ở tính hình tượng. Tức là ở chỗ
phản ánh đời sống không phải trực tiếp khái quát thành công thức, định lí mà gián tiếp qua
hình tượng. Vậy hình tượng là gì? Giữa nó với công thức, định lí khoa học khác nhau ra
sao. Giữa nó - những bức tranh về đời sống - và chính đời sống giống và khác nhau như thế
nào? Tại sao? Bản chất, đặc trưng của hình tượng là gì?
- Xác định phương pháp phân tích tác phẩm văn chương với những tiêu chuẩn về nội
dung và hình thức. Phân tích tác phẩm là làm gì và làm như thế nào? Những tiêu chuẩn nào
được dùng làm căn cứ để phân tích.
- Xác định các loại và thể của văn chương. Thế giới văn chương rất phong phú, đa
dạng. Từ trước tới nay, từ Ðông sang Tây, ta không thể tìm thấy 2 tác phẩm nào giống nhau
hoàn toàn. Tuy vậy, sáng tạo nghệ thuật không phải là tùy tiện, tùy hứng, mà là một công
việc được tiến hành một cách có nguyên tắc, có căn cứ, theo một phương thức nhất định.
Những tác phẩm có cùng một phương thức phản ánh, một cách thức xây dựng tác phẩm sẽ
được xếp vào một loại nhất định và trong từng loại sẽ có các thể.
- Xác định qui luật phát sinh và phát triển các trào lưu và phương pháp sáng tác. Sáng
tác văn chương cũng như nhiều hoạt động nhận thức và sáng tạo khác của con người là phải
có phương pháp, có nguyên tắc. Lí luận văn học chỉ ra những nguyên tắc tư tưởng - nghệ
thuật bao quát của mối quan hệ giữa nghệ sĩ và thực tại đời sống trong quá trình xây dựng
hình tượng.
3. Lí luận văn học với một số ngành nghiên cứu văn học, nghệ thuật.
3.1. Lí luận văn học với Lịch sử văn học
Lịch sử văn học là bộ môn nghiên cứu lịch sử của văn chương. Nó có nhiệm vụ
nghiên cứu quá trình phát sinh và phát triển của các hiện tượng văn chương dân tộc để xác
đặc điểm, vai trò vị trí, ý nghĩa, tác dụng của chúng; vạch ra sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa
các nền văn chương , các giai đoạn văn chương, các hiện tượng văn chương.
Ví dụ: Quy luật phát sinh và phát triển của văn chương Việt Nam là gì? Sự giống
nhau và khác nhau giữa nó với văn chương các dân tộc khác ra sao?...
Giữa lí luận văn học và lịch sử văn học có mối quan hệ mật thiết. Cả hai đều có cùng
đối tượng là văn chương. Một bên sẽ nghiên cứu phương diện cấu trúc của văn chương, một
bên khác nghiên cứu phương diện sinh thành của văn chương. Nhưng chúng quan hệ qua
lại. Không có cái này thì sẽ không có cái kia và ngược lại. Cái này sẽ làm tiền đề cho cái kia
và ngược lại. Nghĩa là nếu không có quá trình phát triển của văn chương thì cũng không thể
có quy luật và đặc trưng chung của văn chương. Mặt khác, nếu không thấy được đặc trưng,
quy luật chung thì cũng không chỉ ra được quá trình phát triển của văn chương.
3.2. Lí luận văn học với Phê bình văn học
Phê bình văn học là bộ môn chuyên phát hiện, phân tích bình giá các hiện tượng văn
chương cụ thể mới ra đời theo quan điểm hiện đại.
Nó có nhiệm vụ cổ xúy những thành tựu văn chương theo một khuynh hướng nhất
định; đồng thời, công kích những khuynh hướng trái ngược. Phê bình văn học còn có nhiệm
vụ hướng dẫn, giúp đỡ, gợi ý cho người thưởng thức và vạch rõ ưu khuyết điểm cho người
sáng tác.
Ví dụ: Một tác phẩm văn chương nào đó mới xuất hiện, nhà phê bình có nhiệm vụ
xem xét, định giá cho nó; giá trị nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật đối với đương
đại và đối với truyền thống cũng như đối với thế giới ... Phê bình văn học và lịch sử văn học
đều đề cập tới những hiện tượng văn chương cụ thể. Nhưng phê bình văn học đứng trên
quan điểm hiện đại để bình giá một một hiện tượng văn chương mới ra đời. Cho nên, tính
hiện đại và tính thời sự là đặc điểm quan trọng của phê bình văn học. Còn lịch sử văn học,
tính lịch sử lại là đặc điểm quan trọng. Nghĩa là nó nghiên cứu những hiện tượng văn
chương đã xảy ra và trở nên ổn định. Người ta không thể tìm thấy gương mặt toàn diện của
một nền văn chương trong quá khứ hay trong hiện tại ở phê bình văn học, nhưng điều đó lại
là yêu cầu bậc nhất của lịch sử văn học.
Phê bình văn học, lịch sử văn học đề cập tới những hiện tượng cụ thể, lí luận văn học
nghiên cứu những quy luật chung nhất. Cho nên, phê bình văn học và lịch sử văn học sẽ
cung cấp những nhận định khái quát cho lí luận văn học. Ngược lại lí luận văn học được
xem như là bộ môn triết học cụ thể của văn chương. Nghĩa là nó cung cấp quan điểm, kiến
thức cho phê bình văn học. Cũng trên ý nghĩa ấy, về cơ bản, lí luận văn học được xem như
là môn phương pháp của phê bình văn học và lịch sử văn học.
3.3. Lí luận văn học và Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Ngày nay, trong quá trình phát triển của mình. Khoa nghiên cứu văn học hình thành
bộ môn mới: phương pháp luận nghiên cứu văn học.
Phương pháp luận nghiên cứu văn học có nhiệm vụ xác lập hệ thống những lí luận về
phương pháp nghiên cứu văn chương. Nó chỉ ra sự vận dụng những quan điểm Mác - xít,
những tri thức khoa học và
phương pháp nói chung vào nghiên cứu văn chương và chỉ ra và chỉ ra phương pháp có tính
chất đặc thù nghiên cứu văn chương.
Nghiên cứu văn học là một khoa học. Ðã là khoa học thì không thể có phương pháp.
Nếu không có phương pháp thì không thể có khoa học. Vì, phương pháp là con đường dẫn
đến kiến thức. Nhưng giữa nhà khoa học xã hội và nhà khoa học tự nhiên, con đường dẫn
đến kiến thức ấy là không giống nhau, mà là, có tính đặc thù. Hệ thống lí luận những
phương pháp nghiên cứu văn chương sẽ mở đường cho các nhà nghiên cứu văn học nhanh
chóng tiếp cận với chân trời khoa học.
So với lí luận văn học, phê bình văn học, lịch sử văn học… thì phương pháp luận là
khoa học của khoa học. Hay nói cách khác nó là loại siêu khoa học.
Các khoa học: lí luận văn học, lịch sử văn học, phê bình văn học… có phương pháp
luận của mình. Ðó là, phương pháp luận lí văn học, phương pháp luận lịch sử văn học,
phương pháp luận phê bình văn học…
Ðấy cũng là tất cả lí do vì sao lí luận văn học là một bộ môn khó, trừu tượng, rất mới
đối với học sinh phổ thông nhưng lại được bố trí vào học ngay đầu năm thứ nhất.
3.4. Lí luận văn học với Mĩ học
Theo Lukin, Mĩ học là khoa học về thẫm mĩ trong hiện thực, về bản chất và quy
luật của nhận thức thẩm mĩ và hoạt động thẩm mĩ của con người, là khoa học về các quy
luật chung của sự phát triển nghệ thuật [1]
Ðối tượng của mĩ học là toàn bộ những quy luật cơ bản và phổ biến nhất của đời
sống thẩm mĩ: tự nhiên, xã hội, nghệ thuật.
So với mĩ học, lí luậân văn học chỉ là một ngành của khoa nghiên cứu một loại nghệ
thuật. Mĩ học là khoa học phương pháp luận của lí luân văn học. Mĩ học sẽ trang bị cho
người nghiên cứu văn chương nói chung và lí luận văn học nói riêng những cơ sở lí luận,
những tiêu chí thẩm mĩ, sự định hướng cho lí luận văn học.
Chẳng hạn, một trong những vấn đề của lí luận văn học là lí giải về hình tượng văn
chương. Muốn lí giải được điều này, lí luân văn học phải xem mĩ học đã giải quyết vấn đề
hình tượng nghệ thuật như thế nào, rồi dựa vào đó mà lí giải hình tượng văn chương.
3.5. Lí luận văn học với Ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học nghiên cứu mọi hoạt động ngôn từ của con người để xác định đặc
điểm và quy luật của các ngôn ngữ dân tộc.
Như vậy, đối tượng của ngôn ngữ học là ngôn ngữ của dân tộc nói chung. Trong lúc
đó đối tượng của lí luân văn học là văn chương nghệ thuật. Lí luận văn học có đề cập đến
vấn đề ngôn ngữ, nhưng là ngôn ngữ văn chương nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây
dựng hình tượng nghệ thuật. Hơn nữa, ngôn ngữ đối với lí luận văn học chỉ là một trong các
phương diện của hiònh thức nghệ thuật.
III. LƯỢC SỬ LÍ LUẬN VĂN HỌC
Quá trình phát triển của lí luận văn học thực chất là quá trình phát triển của nhận thức
con người đối với văn chương. Quan hệ giữa lí luận văn học với sáng tác văn chương là
quan hệ nhân quả biện chứng. Lí luận văn học, vì vậy, đã hình thành từ lâu.
Lí luận văn học thực chất là vũ khí lí luận về văn chương, là vũ khí đấu tranh giai
cấp. Có thể khẳng định rằng lịch sử lí luận văn học là lịch sử đấu tranh và phát triển để đi
đến khẳng định của lí luận văn học duy vật cách mạng. Trên con đường đó, nó luôn luôn
đấu tranh chống lại lí luận văn học duy tâm, phản động
Lí luận văn học nhân loại đã hình thành từ lâu: phương Tây, chí ít. có từ thời Hilạp cổ
đại vói hai nhà lí luận văn học đáng lưu ý là Platông và Aristốt; phương Ðông (Trung Quốc)
có từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, với người đại biểu là Khổng Tử. Tuy vậy, chỉ có từ khi
chủ nghĩa Mác ra đời với thế giới
quan duy vật và phương pháp biện chứng, lí luận văn học Mácxít ra đời mới khắc phục
được tình trạng siêu hình, máy móc, không tưởng, thậm chí duy tâm, phản động trước đây
và đã trở thành một khoa học thực sự chân chính.
1. Lí luận văn học trước C. Mác
1.1. Lí luận văn học phương Ðông (Trung Quốc, Việt Nam).
Lí luận văn học phương Ðông sớm phát triển trong xã hội nô lệ ở Ai Cập, Ấn Ðộ,
Trung Quốc …
a. Lí luận văn học cổ Việt Nam
Cho đến nay, tư liệu về lí luận văn học cổ Việt Nam chưa sưu tập được đầy đủ.
Nhưng, dựa trên những tư liệu đã có, chúng ta có thể hình dung được rằng nền lí luận văn
học cổ Việt Nam đã có từ lâu (chí ít cũng từ thế kỷ thứ X, cùng thời với việc xuất hiện văn
chương thành văn) và khá phong phú. Sau đây là điểm qua đôi nét về những vấn đề văn
chương mà ông cha ta tập trung bàn đến:
- Về đối tượng và nội dung của văn chương:
Lê Quý Ðôn viết: "… thơ có ba điều chính : một là tình, hai là cảnh, ba
là sự …"[1] Nguyễn Văn Siêu viết: "Văn và đạo tuy khác tên, nhưng kỳ
thực văn do đạo mà ra."
- Giữa văn chương và đời sống có mối quan hệ
chặt chẽ: Phan Huy Chú: "Xem đến văn thì biết
được đạo."
Nhữ Bá Sĩ viết: "Văn chương là cái hiện trạng một thời đã làm nên nó."
- Về tính chất và chức năng của văn chương: Tính chân thực là yêu cầu quan trọng
nhất của văn chương.
Lê Quí Ðôn: "Ba trăm bài thơ trong "Kinh thi" phần nhiều là của nông dân, phụ nữ
làm ra, mà cũng có văn sĩ đời sau không theo kịp. Như thế là vì nó chân thực."[1]
Ngô Thời Nhậm cho rằng thơ "Chỉ cốt ở thuần hậu, giản dị, thẳng thắn, không giả dối,
xảo trá …"
- Chức năng nhận thức của thơ, văn được nhấn mạnh:
Ngô Thì Sỹ viết: "Văn chương có quan hệ đến đời mà đạo khiến người tài phải coi
việc giáo hóa là trước nhất."
Ngô Thì Nhậm viết: "… rốt cuộc chú trọng ngăn chặn đều xấu, bảo tồn điều hay mới
là đặc sắc chính của thơ vậy".
- Về tương quan giữa nội dung và hình thức: Nội dung và hình thức phải hài hòa,
nhưng nội dung chiếm vị trí ưu tiên.
Nguyễn Ðức Ðạt viết: "Ngày xưa, quân tử lấy lí làm xương cốt, lấy văn làm da thịt,
xương cốt nhiều quá thì cứng rắn, da thịt nhiều quá thì yếu ớt. Da thịt và xương cốt phải
xứng nhau thì hơn, không được thế thà cứng rắn còn hơn yếu ớt".
- Về kế thừa truyền thống và tiếp thu nước ngoài; chống tư tưởng nệ cổ:
Nguyễn Trường Tộ viết: "Ðến ngày nay còn nhiều người không lĩnh hội được cái sự
thể biến thiên qua đời xưa và đời nay mà lại cực lực ngợi khen thời thượng cổ, cho rằng đời
sau không theo kịp, họ làm gì cũng muốn trở về xưa. Bọn Tống nho làm cho nước nhà lầm
đường và trở thành ủy mĩ không thể chấn hưng được là vì thế. Thật rõ đời xưa mọi việc đều
kém xa đời nay. Kẻ trí giả không ngoái cổ về dỉ vãng mà chỉ chăm lo việc tương lai."[1]
- Chống nô lệ nước ngoài:
Hoàng Ðức Lương viết: "Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, lẽ đâu
không có quyển sách nào để làm gốc rễ, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời nhà Ðường,
như thế chẳng đáng thương xót lắm sao!"
Nguyễn Hành viết: "… cầu ở nước ngoài sao bằng tìm ở nước nhà".
- Về người sáng tác: Người sáng tác phải có tài năng, hiểu nhiều biết rộng.
Lê Hữu Kiều viết: "Người làm thơ hay được như vậy tất phải là người tài hoa, tính tứ
vượt bậc, bụng dạ chung đúc bao la mà lại là người có học vấn đầy đủ, kiến văn rộng rãi".
Người sáng tác phải lịch lãm, từng trải.
Phan Huy Vịnh: "Không ai là không nhờ du lịch muôn dặm mà sau đó mới tới được
cỏi thần diệu".
Còn rất nhiều vấn đề khác về văn chương mà cha ông ta bàn đến, nhưng không có
điều kiện để trình bày hết ở đây.
Trong điều kiện còn rất thiếu thốn về tư liệu nên chúng ta chưa thể đánh giá đúng
mức về qui mô và tính chất của di sản lí luận văn nghệ cổ của cha ông ta.
b. Lí luận văn học cổ Trung Quốc:
Lí luận văn học Trung Quốc cổ đại được thành tựu trong thời kỳ phong kiến. Do phát
triển trong khuôn khổ chế độ phong kiến, triết học Trung Quốc chưa đạt đến chủ nghĩa duy
vật triệt để và phép biện chứng, lê luáûn vàn hoüc Trung Quốc cổ dựa trên cơ sở ấy không
có một trình độ khoa học cao. Tuy vậy, trong mấy nghìn năm phong kiến, Trung Quốc xuất
hiện nhiều nhà lí luận văn nghệ đáng lưu ý: Khổng Tử, Lưu Hiệp, Bạch Cư Dị, Viên Mai …
Khổng Tử (551 - 479 trước CN) là người đặt nền móng cho mĩ học và lí luận văn học
Trung Quốc truyền thống trong suốt mấy nghìn năm. Với Luận ngữ của ông, khoa nghiên
cứu văn chương Trung Quốc được bắt đầu.
Ông có một quan niệm về văn chương khá toàn diện; văn chương gắn liền với xã hội,
với chính trị, với đạo đức và có giá trị nhận thức.
- "Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát phong tục, hòa hợp với mọi
người, bày tỏ nỗi sầu oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại được biết nhiều tiếng chim
muông cây cỏ" (Luận ngữ).
- "300 bài kinh thi, nói tóm lại một câu là không suy nghĩ bậy bạ" (Luận ngữ).
- "Ðọc thuộc 300 bài kinh thi, giao nhiệm vụ không làm được, sai đi sứ nước ngoài
không làm được, phỏng có ích gì". (Luận ngữ).
Lưu Hiệp (465 - 520) Với tác phẩm Văn tâm điêu long - công trình lí luận văn học
nổi tiếng, ảnh hưởng đến hàng nghìn năm sau, đã có một quan niệm toàn diện về văn
chương : bản chất, chức năng, nội dung, hình thức… của văn chương. Và đặc biệt là loại thể
văn chương, ông bàn khá tỉ mỉ.
- "Thơ giữ tính tình, mở đường cho cái đẹp cái tốt, ngăn giữ cái xấu".
- "Thời thịnh văn thịnh, thời suy văn suy".
- "Không nói đến văn chương có lẽ không phải là người lo việc lớn, văn thái phát ra
ngoài làm cho ở ngoài rực rỡ, tô vẽ thêm cái bản chất tốt đẹp, văn phải là cái để cai quản
quân nước; văn đâu phải là cái không làm cho chính mình rực rõ, nó còn làm cho cả nước
sáng chói".
Bạch Cư Dị (772 - 846), nhà lí luận xuất sắc đời Ðường. Có thể xem những bức thư
của ông gởi Nguyên Chẩn là cương lĩnh thơ ca đời Ðường. Quan niệm văn chương của ông
mang tính hiện thực và tính nhân dân sâu sắc: "Vị quân, vị thần, vị dân, vị sư, vị vật, nhi
tác, bất vị văn nhi tác".
Trong quan hệ giữa nội dung và hình thức, nội dung phải thống nhất với hình thức,
nội dung chiếm ưu tiên so với hình thức. Ông có một định nghĩa khá lí thú về thơ "Căn tình,
miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa".
Viên Mai (1716 - 1797) có nhiều kiến giải về thơ khá cụ thể và sâu sắc, ông đề cao
tính hiện thực, tính kế thừa và sáng tạo, tính nhân dân của thơ ca. "Thơ khó ở chỗ chân thật,
mắt chưa thấy, chân chưa tới mà cứ miễn cưỡng làm ra thì chẳng khác nào phơi nắng dưới
mái hiên"; "Không học cổ nhân thì không có gì cả, hoàn toàn giống cổ nhân thì không tìm
đâu ra mình cả" ; "Ðàn bà, con gái, kẻ dốt nát quê mùa, thỉnh thoảng làm một vài câu cho
dù Lí Bạch, Ðỗ Phủ có sống lại cũng phải cúi đầu".
Cần lưu ý rằng: Trong lịch sử lí luận văn học Trung Quốc cổ, bên cạnh những nhà lí
luận với quan niệm văn nghệ mang tính nhân dân và tính hiện thực, luôn xuất hiện những
người mang những quan niệm về văn nghệ bảo thủ, duy tâm, phản động. Chẳng hạn:
- Trang Tử (369 - 286 trước CN) với thuyết "vô vi" và "tương đối" luận đã lí giải cái
đẹp là tương đối, là "bất khả tri".
- Hàn Dũ (786 - 824) chủ trương "văn dĩ minh đạo" và "đạo" theo ông là "Tiên vương
chi đạo".
- Chu Ðôn Di (1717 - 1073) thì cho rằng "văn dĩ tải đạo". "Văn là để chở đạo, cũng
như xe để chở đồ vật vậy. Bánh xe và càng xe được trang hoàng mà không dùng đến, đó là
trang hoàng phí công, huống chi là xe không?"
Tóm lại: Tư tưởng mĩ học và lí luận văn nghệ Trung Quốc phong kiến phát triển
trong một giai đoạn ngót 3000 năm. Tuy nhiều lúc đã vượt ra ngoài giới hạn của tư tưởng
chính thống để đạt được những luận điểm khả thủ. Song, về cơ bản, sự phát triển ấy là ở
trong khuôn khổ Khổng giáo và Lão giáo.
1.2.. Lí luận văn học phương Tây
Lí luận văn học phương Tây có một lịch sử phát triển khá lâu đời, phong phú và đạt
được những thành tựu rực rõ, đặc biệt có những đỉnh cao tiếp cận văn chương Mác xít
a. Lí luận văn học thời Hy Lạp - La Mã cổ đại.
Tư tưởng mĩ học, lí lwnj văn học Hy - La cổ đại đóng một vai trò rất quan trọng trong
quá trình phát triển cả về sau này. nhiều vấn đề quan trọng nhất về bản chất, vai trò xã hội
của văn nghệ đã được đặt ra. Học thuyết về sự bắt chước nghệ thuật đã nhấn mạnh sự tuỳ
thuộc của nghệ thuật đối với thế giới thực tại. Tư tưởng về ý nghĩa giáo dục của nghệ thuật
được phát triển rộng rãi. những vấn đề về loại hình loại thể, về nội dung và hình thức của
tác phẩm nghệ thuật cũng được giải quyết
Aristote (384-322 TCN), ngả theo con đường triết học duy vật, tư tưởng mĩ học, lí
luận văn học của Aristote là tư tưởng duy vật. Cuốn "Thi học" của ông có thể coi là công
trình tông hợp tư tưởng mĩ học, lí luậ văn học phương Tây cổ đại. Ông quan niệm cái đẹp
gắn liền với hiện thực khách quan. "Những hình thái chủ yếu của cái đẹp là trật tự trong
không gian và thời gian, là tính tương ứng và tính chính xác." [1]
Học thuyết về sự chắt chước của ông đã xem nghệ thuật như là một hành động sáng
tạo, không quy nghệ thuật vào sự sao chép máy móc tự nhiên. giản đơn. Aristote nhấn mạnh
vai trò nhận thức to lớn của sáng tạo nghệ thuật, do chỗ, nghệ thuật không phải bắt chước
cái đơn giản nhất mà là cái có thể xảy ra, nghệ thuật chú ý tập trung vào cái chung, cái hợp
qui luật chứ không phải cái đơn nhất, cái ngẫu nhiên. Aristote còn lí giải một cách sâu sắc
việc phân chia nghệ thuật ra thành ba loại: tự sự, trữ tình và kịch. Cách phân chia này đến
ngày nay vẫn còn ý nghĩa.
b. Lí luận văn học thời Trung cổ
Thời Trung cổ, triết học duy tâm chủ nghĩa chiếm địa vị thống trị, mĩ học và lí luận
nghệ thuật tiến bộ bị thần học duy tâm bóp nghẹt.
Augustin (354 - 430) là cha đẻ của giáo hội, cho rằng Chúa là nguồn gốc mọi cái đẹp
và Chúa là cái đẹp co quí nhất. ông cho rằng nghệ thuật không nên gợi lên một hứng thú gì
khác mà phải tìm hứng thú trong ý niệm gắn với Chúa.
NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA VĂN NGHỆ
*****
I.
II.
III.
NGUỒN GỐC CỦA VĂN NGHỆ
1.
Những quan niệm duy tâm, sai lầm về nguồn gốc văn nghệ
2.
Lao động là nguồn gốc của văn nghệ
VĂN CHƯƠNG LÀ MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI THUỘC THƯỢNG
TẦNG KIẾN TRÚC
1.
Văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng
2.
Tương quan giữa cơ sở hạ tầng với văn nghệ
VĂN NGHỆ VỚI CÁC HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI
1.
Văn nghệ với chính trị
2.
Văn nghệ với triết học
3.
Văn nghệ với khoa học
4.
Văn nghệ với đạo đức
Văn chương, cũng như các loại hình nghệ thuật khác, không phải là của cải vật chất
của xã hội, cũng không phải là một lực lượng trực tiếp trực tiếp sản sinh ra một giá trị vật
chất nào cho đời sống xã hội. Nhưng chúng ta sẽ không hình dung nổi một xã hội mà ở đó
không có sự tồn tại của văn chương nghệ thuật.. Chỉ bởi, văn chương nghệ thuật chiếm giữ
một vai trò cực kỳ to lớn trong đời sống tinh thần của con người. Ðể tồn tại và phát triển,
con người không chỉ cần "ăn ở" mà còn cần cả "múa hát". Ý thức được vai trò, giá trị của
văn nghệ trong đời sống của mình, con người từ xa xưa đã muốn tìm hiểu để nắm được bản
chất, quy luật, đặc trưng đặc điểm của văn nghệ hầu làm chủ nó, thúc đẩy nó phát triển.
Mối quan tâm trước nhất của con người đối với văn nghệ là nguồn gốc, bản chất của
nó.
I. NGUỒN GỐC CỦA VĂN NGHỆ
Tìm hiểu nguồn gốc của văn nghệ là tìm hiểu tác nhân chủ yếu đầu tiên nào đã làm
cho văn nghệ này sinh và phát triển. Tức là xác định khởi điểm những mâu chuẩn đối lập
nội tại và ngoại tại nào làm cho văn nghệ này sinh và phát triển.
Từ hàng nghìn năm nay, loài người đã có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn
gốc văn nghệ. Nhưng tựu trung, đều có thể quy về hai loại quan điểm: quan điểm duy tâm
và quan điểm duy vật về nguồn gốc văn nghệ.
1. Những quan niệm duy tâm, sai lầm về nguồn gốc
nghệ thuật.
a. Quan niệm tôn giáo về nguồn gốc nghệ thuật.
Các quan niệm tôn giáo về nguồn gốc nghệ thuật rất đa dạng nhưng đều thống nhất ở
một điểm là cho rằng : cái đã làm cho văn nghệ nảy sinh là một lực lượng siêu nhiên, thần
kỳ ngoài đời sống con người.
- Quan niệm thần thoại
Thần thoại Phương Ðông (Ấn Ðộ, Trung Quốc…) Thần thoại Phương Tây (Hy Lạp…) đều
giải thích nguồn gốc thơ ca là do các vị thần nhà trời tạo ra. Từ quan niệm các thần trên
thiên đình tạo ra nghệ thuật đã đưa đến quan niệm khá phổ biến trong sáng tác là "thần
hứng" , được nhiều người tán đồng. Theo quan niệm này thì các nghệ sĩ bỗng dưng cảm xúc
trào dâng đã sáng tác được những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời. Ấy chính là lúc "thần
hứng" đã nhập vào người họ, "nàng thơ" đã đến với họ. Chứng cớ là có nhiều tác phẩm
nghệ thuật tuyệt diệu ra đời trong những giấc mơ như các bản nhạc của Tác - ti - ni, của Sô
- panh …
- Thuyết ma thuật
Một quan niệm có tính chất tôn giáo nữa là thuyết ma thuật. Ma thuật là một hình
thức của tôn giáo nguyên thủy. Ma thuật là những nghi lễ nhằm tác động hư ảo vào tự nhiên
khi con người bất lực trước tự nhiên. Người nguyên thủy gán cho các hiện tượng tự nhiên
khó hiểu ma lực. Họ thường hay cầu nguyện, tế lễ, ca hát, nhảy múa để cầu mong sự phù hộ
của lực lượng siêu phàm nào đó. Chẳng hạn, người nguyên thủy cho rằng nhật thực là điềm
báo tai họa, vì vậy, phải nổi trống, chiêng lên để xua đuổi ác quỷ. Ðể cầu mong thần linh và
tạ ơn thần linh giúp đỡ trước và sau lúc săn bắt, họ có lễ cầu nguyện tế các thần. Tục đeo
móng vuốt, răng, da của các loài thú dữ là để làm bùa hộ mệnh. Một số học giả cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ
XX, tiêu biểu là Reinach ở Pháp và Nga, đã căn cứ vào nghi tiết phù chú của ma thuật
nguyên thủy để cho rằng nghệ thuật ra đời từ ma thuật.
Như đã nói, sai lầm cơ bản của quan niệm tôn giáo về nguồn gốc nghệ thuật là ở chỗ
cho rằng nghệ thuật nảy sinh do yếu tố siêu nhiên cách xa đời sống con người.
Việc các nhà nghệ thuật và khoa học sản sinh ra được những tác phẩm, những công
trình xuất sắc từ giấc mơ là có thật. Nhưng đó không phải do ma lực mà chính là do năng
lực của chính người sáng tác. Khoa học đã chứng minh rằng, trong khi ngủ một vùng nào
đó của bộ óc các nhà nghệ sĩ và khoa học vẫn hoạt động.
Ma thuật nguyên thủy là có thật. Người nguyên thủy do chưa làm chủ được tự nhiên
và bản thân mình trên thực tế, nên đã phải làm chủ nó, chiến thắng nó bằng ảo tưởng. Thế
giới quan thần linh chủ nghĩa đã chi phối mạnh mẽ đời sống người nguyên thủy. Thế giới
quan thần linh chủ nghĩa là sự phản ánh hư ảo trong đầu óc con người những lực lượng bên
ngoài thống trị họ, trong sự phản ánh đó những lực lượng trần thế mang hình thức các lực
lượng siêu phàm. Ðiều đó đã phản ánh tình trạng bất lực của con người trước các lực lượng
khủng khiếp và bí ẩn của tự nhiên.
Như vậy, tôn giáo ra đời là do con người khiếp nhược trước tự nhiên. Còn nghệ thuật,
như mọi người đều biết là phương tiện khẳng định cuộc sống. Nghệ thuật đưa lại cho con
người những cảm xúc trái ngược với tôn giáo. Hơn nữa, cần phải thấy rằng tôn giáo thời
nguyên thủy khác xa với tôn giáo trong xã hội có giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, tôn
giáo bị lợi dụng làm phương tiện ru ngủ và áp bức quần chúng. Thời nguyên thủy, đằng
trong bộ áo duy tâm ấy là cả hạt nhân thực tiễn: vì cuộc sống thực sự của chính người
nguyên thủy. Cầu nguyện tế lễ là mong cho các cuộc săn bắt đạt được kết quả hơn ; Ðeo
móng vuốt hổ, gấu là để mong có sức mạnh như chúng, là chiến tích; xâm mình là để ngụy
trang.
b. Quan niệm bản năng về nguồn gốc nghệ thuật.
- Thuyết bản năng du hí.
Ðây là thuyết duy tâm về nguồn gốc nghệ thuật thịnh hành và có ảnh hưởng nhất ở
Tây Âu. Kant (1724 - 1801), nhà triết học duy tâm chủ quan Ðức, cho rằng tác phẩm nghệ
thuật là một cứu cánh nội tại, không có mục đích ý nghĩa nào ngoài bản thân nó, nghệ thuật
là một trò chơi không vụ lợi. Schiller (1759 - 1805), nhà văn Ðức, cũng cho rằng đặc trưng
của cảm thụ thẩm mĩ là xu hướng tự do vui vẻ. Yếu tố kích thích thứ nhứt và quyết định của
sáng tác nghệ thuật là xu hướng du hí bẩm sinh của con người. Spencer (1820 - 1903), nhà
triết học và xã hội học Anh, bổ sung vào học thuyết của Schiller lí luận về sự phát tiết của
sinh lực thừa. Theo ông, ở động vật bậc cao và ở con người, sinh lực rất dồi dào, nó không
thể tiêu hao hết cho nhu cầu sinh tồn, phần dư thừa phải phát tiết ra ngoài. Con hổ vồ mồi,
con mèo chạy vờn theo cuộn len, con mèo vờn chuột… là những hình thức của sự tiêu hao
sinh lực thừa. Những cái đó là vô mục đích. Nghệ thuật ở mức độ cao hơn, nhưng xét nguồn
gốc thì thực chất cũng là một thứ trò chơi vô mục đích, là sự phát tiết sinh lực thừa.
Một số học giả duy vật dung tục lại dựa trên một số nhận xét của Darwin (1809 1882), nhà bác học sinh vật Anh về bản năng tự làm đẹp của động vật để đề ra thuyết bản
năng mỉ cảm ở con người. Bản năng mỉ cảm ở con người vốn là bản năng bẩm sinh, bản
năng sinh vật chứ không phải là ý thức xã hội.
Như vậy, tóm lại là, các ý kiến của Kant...
 





