KHÔNG THỜI GIAN - MỪNG NGÀY QĐNDVN

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

TRANG HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Ảnh ngẫu nhiên

Z5871320865154_324cba5b3dbff25760aa4753f07acc57.jpg Z5871320852161_60103259efd342b7fa8886b79261df51.jpg Z5871320905141_e72e22b8956c925683c316f8856055a8.jpg Z5871320882518_ec80f141e62d75c59adf04c8c899b850.jpg Z5871320867385_6ffce56f742df53de1567b3bc920b578.jpg Z5871320841235_7955bb321c9e728654665d2175e3090a.jpg Z5871320833522_cd114a0f2af7730b59c1cc1fc15e0dda.jpg Z5871320794369_1a8eb7e5771c664e852b353838bdfbc5.jpg Z5871320815521_496edbcc88c66f39c907e78e049b3416.jpg Z5871320810313_e17d8d0121a8d28d820051f11dbf0b11.jpg Z5871320799299_55c969fddb4c37f1f1d421d47e70e9b0.jpg Z5871320794972_f9ec3796ef011d9d059979edb22e2fdb.jpg Z5871320794369_1a8eb7e5771c664e852b353838bdfbc5.jpg Z5871320785370_aabf1ef470d972b9bfc9b5669544d99c.jpg Z5871320781685_9dff5ce4baebd133dc8ed80e2050da9f.jpg Z5871320773939_80651f30d59e3ab197ba59f1cc385368.jpg Z5871320768393_8282d7ce36b224724e235cc014fa5c31.jpg Z5871320765133_affd7ff20d1363c8b70c30bd7db4a5b3.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    LỜI CHÚC HÀNG NGÀY

    BÀI HÁT VỀ QUÂN ĐỘI NDVN

    Tài liệu GDĐP 7

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Thanh Ngân
    Ngày gửi: 08h:19' 26-12-2024
    Dung lượng: 19.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    ĐỒNG HUY GIỚI – HÀ THỊ KHÁNH VÂN (đồng Tổng Chủ biên)
    NGUYỄN VĂN DŨNG – NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN – PHẠM THỊ MAI NGỌC – LÊ THỊ MINH NGUYỆT
    NGUYỄN THỊ HỒNG THUÝ – HỒ THỊ HỒNG VÂN (đồng Chủ biên)
    VŨ THỊ LAN ANH – TRƯƠNG PHƯƠNG ANH – NGÔ THẾ ANH – NGUYỄN HOÀNG ĐẠO – VŨ TRÚC HÀ
    NGUYỄN THU HẰNG – NGUYỄN THANH HỒNG – NGUYỄN THANH MAI – LƯU HOA SƠN – ĐỖ TRUNG SỸ
    HOÀNG VĂN THAO – TRIỆU HOÀNG THUÝ – DƯƠNG ANH TUÂN – LƯƠNG ÁNH TUYẾT

    1

    HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
    Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 đều
    được chỉ dẫn bằng một kí hiệu. Thầy cô sẽ hướng dẫn học sinh theo những
    chỉ dẫn này. Các em cũng có thể theo các kí hiệu chỉ dẫn này để tự học.

    Gợi mở những vấn đề liên quan đến nội dung
    chủ đề, tạo hứng thú cho học sinh đối với bài mới

    Phát hiện, hình thành các kiến thức mới, kĩ năng mới

    Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng theo nội dung,
    yêu cầu cần đạt của chủ đề

    Vận dụng những tri thức, kĩ năng đã được
    hình thành, rèn luyện để giải quyết các vấn đề
    trong thực tiễn cuộc sống

    2

    Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp
    Trung học cơ sở là nội dung giáo dục bắt buộc, có vị trí tương đương các môn học khác.
    Nội dung tài liệu chứa đựng những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá, lịch sử,
    địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm trang bị cho
    học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng tình yêu và niềm tự hào về quê
    hương, gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; giáo dục sự trân trọng và
    có ý thức giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh địa phương,
    vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của
    địa phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp.
    Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 được biên soạn bao gồm khung
    chương trình và tài liệu dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; được thiết kế gồm 8
    chủ đề thuộc 3 cụm lĩnh vực với tổng thời lượng là 35 tiết/năm học. Việc biên soạn tài
    liệu được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan. Nội dung,
    thông tin thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cao; đồng thời bám sát mục tiêu đổi mới
    giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung
    ương Đảng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh tương ứng với
    lớp, cấp học, giúp cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy
    học tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tối đa tính tự giác,
    tích cực, sáng tạo của giáo viên và học sinh.
    Nhóm biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 7 là các chuyên gia,
    các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán cấp Trung học cơ sở,
    Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn, giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn.
    Tài liệu đã nhận được sự góp ý của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ quản lí giáo dục,
    giáo viên cấp Trung học cơ sở trong và ngoài tỉnh thông qua các hội nghị, hội thảo;
    đồng thời đã được tổ chức dạy thực nghiệm tại trường Trung học cơ sở trên địa bàn
    tỉnh, được các thầy, cô và học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi và thực tiễn cao.
    Tài liệu đã được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn thẩm định và Bộ Giáo dục và Đào tạo
    phê duyệt. Đây là tài liệu giáo dục địa phương chính thức được sử dụng trong tất cả các
    trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
    Chúc các em học tập tốt và trải nghiệm thật vui !

    3

    Trang
    LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ ............................................................................................................. 5
    Chủ đề 1. Tục ngữ, ca dao Lạng Sơn ...................................................................................................... 5
    Chủ đề 2. Hát Then – đàn tính ở tỉnh Lạng Sơn ............................................................................... 10
    Chủ đề 3. Lạng Sơn trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ biên giới
    tổ quốc (từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ) .......................................................................................... 15
    Chủ đề 4. Di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Lạng Sơn............ 22

    LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP ............................................................................ 33
    Chủ đề 5. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Lạng Sơn ................................ 33
    Chủ đề 6. Một số nghề phổ biến ở Lạng Sơn ................................................................................... 47

    LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG ........................................................................ 55
    Chủ đề 7. Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương Lạng Sơn ................ 55
    Chủ đề 8. Đa dạng hệ sinh thái tỉnh Lạng Sơn ................................................................................. 64

    4

    VĂN HOÁ, LỊCH SỬ

    1

    TỤC NGỮ, CA DAO LẠNG SƠN

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Nhận biết được một số yếu tố của tục ngữ, ca dao: số lượng câu, chữ, vần,…
    qua một số câu tục ngữ, bài ca dao tiêu biểu của Lạng Sơn.
    ● Biết viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề đời sống được gợi ra qua các
    câu tục ngữ, bài ca dao đã học; bày tỏ rõ quan điểm cá nhân; đưa ra được
    lí lẽ rõ ràng và bằng chứng đa dạng.
    ● Trình bày được ý kiến về một vấn đề đời sống được gợi ra qua các câu tục ngữ,
    bài ca dao đã học, nêu rõ ý kiến và các lí lẽ, bằng chứng thuyết phục. Biết
    bảo vệ ý kiến của mình trước sự phản bác của người nghe. Tóm tắt được các
    ý chính do người khác trình bày.
    ● Biết yêu quý, trân trọng và có ý thức giữ gìn tục ngữ, ca dao Lạng Sơn.

    1. Em biết những câu tục ngữ, bài ca dao nào của Lạng Sơn?
    2. Theo em, những câu tục ngữ, bài ca dao đó gửi gắm triết lí, tình cảm nào của
    người xưa?

    TỤC NGỮ
    Chuẩn bị
    Khi đọc tục ngữ, em cần chú ý:
    – Số chữ, số dòng, cách gieo vần, ngắt nhịp trong mỗi câu tục ngữ.
    – Bài học nhận thức (về tự nhiên, xã hội) được gửi gắm trong mỗi câu tục ngữ.

    5

    VĂN BẢN(1)
    1. Bươn Slam lồng chả
    Bươn Hả đăm nà.
    (Tháng Ba gieo mạ
    Tháng Năm cấy lúa.)
    2. Phả fạ tắm phân luông
    Phả fạ slung phân nọi.
    (Mây trời sà thấp mưa to
    Mây trời bay cao mưa ít.)
    3. Nâư chay mạy
    Pài đảy khăm.
    (Sáng trồng cây
    Chiều có bóng mát.)
    4. Nẳng kin
    Thin phja lác.
    (Ngồi ăn, núi đá lở.)
    5. Kin đay mí lao pình
    Nằng chính mí lao nghiếng.
    (Ăn sạch chẳng sợ bệnh
    Ngồi ngay không sợ ngã.)
    6. Lạc mạy tẩn
    Lạc cần slì.
    (Rễ cây ngắn
    Rễ người dài.)
    7. Ún bố quá cong fầy
    Đây bố quá pò mè.
    (Ấm không hơn bếp lửa
    Tốt không hơn bố mẹ.)
    8. Slai đưa cắt tòn.
    (Dây rốn chia đôi.)
    (1)

    Bài học chỉ trích dẫn tục ngữ của dân tộc Tày – Nùng, hai dân tộc chủ yếu ở Lạng Sơn.

    6

    9. Slíp pì noọng dú quây
    Bấu tày lạo thua đây tồng tó.
    (Mười anh em ở xa
    Không bằng người cạnh cầu thang.)
    10. Mí chảng tha táng hăn
    Mí nầư căm quỳn đảy quá vằn.
    (Chẳng nói ai cũng biết
    Chẳng ai nắm tay được cả ngày.)
    (Theo Hoàng Nam, Thành ngữ, tục ngữ, châm ngôn Tày – Nùng,
    NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2017)

    Em có biết?
    ● Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, có vần, có nhịp điệu, thể hiện nhận thức của
    người xưa về quy luật, hiện tượng thiên nhiên, kinh nghiệm sản xuất hoặc tổng kết, giáo dục
    về đạo đức, răn dạy về điều hay lẽ phải và đối nhân xử thế giữa người với người.
    ● Tục ngữ Lạng Sơn gồm các nhóm:
    – Tục ngữ đúc rút kinh nghiệm trong lao động, sản xuất;
    – Tục ngữ về cách ứng xử trong gia đình, xã hội;
    – Tục ngữ tổng kết, giáo dục về phẩm chất đạo đức.

    1. Xác định số chữ, cách gieo vần, mối quan hệ giữa các vế trong bản nguyên tác
    của các câu tục ngữ trên.
    2. Hãy chia nhóm các câu tục ngữ trong bài dựa vào nội dung của chúng.
    3. Chỉ ra kinh nghiệm về tự nhiên hoặc xã hội được đúc kết trong mỗi câu tục ngữ.

    CA DAO
    Chuẩn bị
    Khi đọc bài ca dao, em cần lưu ý:
    – Thể thơ, số dòng, cách gieo vần trong bài ca dao.
    – Tình cảm, tâm sự của tác giả dân gian thể hiện qua bài ca dao.
    VĂN
    BẢN
    – Biện pháp tu từ được sử dụng, hiệu quả của biện pháp tu từ đó đối với bài ca dao.

    7

    VĂN BẢN
    Đồng Đăng(1) có phố Kỳ Lừa (2)
    Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh
    Ai lên xứ Lạng cùng anh,
    Tiếc công(2) bác mẹ sinh thành ra em
    Tay cầm bầu rượu nắm nem(3)
    Mảng vui(4) quên hết lời em dặn dò.
    (Theo Mã Giang Lân, Tục ngữ, ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 93)

    Chợ Kỳ Lừa xưa và nay

    Em có biết?
    ● Ca dao diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ lứa đôi,
    gia đình, xã hội, đất nước,... gắn liền với nghi lễ, phong tục và đời sống sinh hoạt hằng ngày.
    ● Ca dao Lạng Sơn bao gồm ca dao tiếng Việt và ca dao tiếng dân tộc thiểu số.

    (1)

    Đồng Đăng: khoảng từ cuối thế kỉ XV, Đồng Đăng là một vùng rộng lớn bao gồm thành phố Lạng Sơn
    và Đồng Đăng ngày nay, trong đó có chợ Kỳ Lừa, chùa Tam Thanh, núi Tô Thị,…

    (2)

    Tiếc công: có dị bản là bõ công.
    Nem: có thể hiểu là nem (dùng để ăn), cũng có thể hiểu là nem hương – nhang (dùng để cúng, lễ).
    (4)
    Mảng vui: có dị bản là mải vui.
    (3)

    8

    1. Chỉ ra đặc điểm của thể thơ lục bát thể hiện qua bài ca dao (số chữ trong mỗi
    dòng, số dòng trong bài, cách gieo vần, cách ngắt nhịp).
    2. Chỉ ra các địa danh của Lạng Sơn xuất hiện trong bài ca dao.
    3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong bài ca dao.
    4. Em có cảm nhận gì về vẻ đẹp của Lạng Sơn qua bài ca dao trên?
    5. Nhận xét về tình cảm của tác giả dân gian đối với Lạng Sơn qua bài ca dao trên.

    1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 10 – 12 câu) bày tỏ suy nghĩ của em về vấn đề
    đời sống được gợi ra từ một câu tục ngữ hoặc bài ca dao đã học.
    2. Giả sử bạn em cho rằng câu tục ngữ:
    Slíp pì noọng dú quây
    Bấu tày lạo thua đây tồng tó.
    (Mười anh em ở xa
    Không bằng người cạnh cầu thang.)
    có nghĩa là không cần quan tâm đến những người ruột thịt ở cách xa mình mà chỉ nên
    quan tâm, yêu quý láng giềng. Hãy nêu quan điểm của em về vấn đề này.

    1. Sưu tầm các dị bản của bài ca dao đã học, ghi chép lại.
    2. Ghi lại 3 tình huống sử dụng tục ngữ em nghe được trong lời ăn tiếng nói
    hằng ngày của người thân, bạn bè.
    3. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 10 – 12 câu) về vấn đề đời sống được gợi ra từ một
    câu tục ngữ em sưu tầm được.

    9

    2

    HÁT THEN − ĐÀN TÍNH Ở TỈNH LẠNG SƠN

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Trình bày được một số đặc điểm và giá trị của Di sản Thực hành Then.
    ● Xác định được vai trò, ý nghĩa của hát Then – đàn tính trong đời sống hiện nay ở
    địa phương em.
    ● Sưu tầm và liệt kê được một số chủ đề của lời hát Then mới ở địa phương em
    hiện nay.
    ● Làm được một sản phẩm tuyên truyền về hát Then – đàn tính (bài viết, hình
    ảnh, video clip, poster,...).

    Thảo luận để trả lời câu hỏi:
    – Em đã từng tham dự Nghi lễ Then hoặc chương trình biểu diễn hát Then – đàn tính
    chưa? Cảm xúc của em sau khi tham dự hoạt động đó như thế nào?
    – Chia sẻ với các bạn trong nhóm những hiểu biết của em về hát Then – đàn tính ở
    địa phương em hiện nay.

    1. Thực hành Then của Việt Nam được ghi danh là di sản văn hoá của nhân loại
    Thực hành Then tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc (Bắc Giang, Bắc Kạn,
    Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang), vùng Tây Bắc
    (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai) và một số địa phương khác ở Việt Nam. Đây là di sản văn
    hoá đặc trưng của người Tày, Nùng, Thái,...
    Thực hành Then của người Tày, Nùng ở Lạng Sơn, cũng giống như ở các địa
    phương khác, vừa là một thực hành nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh,
    vừa là một loại hình nghệ thuật dân gian phản ánh các quan niệm về con người, thế
    giới tự nhiên và vũ trụ của người Tày, Nùng. Các nghi lễ Then như cầu an, giải hạn,
    cúng mụ,... đều hướng tới những điều tốt đẹp, bày tỏ khát vọng về cuộc sống bình
    yên, ấm no, hạnh phúc và thể hiện bản sắc văn hoá của các dân tộc này. Năm 2019,
    Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá
    phi vật thể đại diện của nhân loại.
    10

    Thực hành Then là một loại hình
    nghệ thuật tổng hợp chứa nhiều
    thành tố văn học, âm nhạc, mĩ thuật,
    múa,... Trong các nghi lễ, ông Then,
    bà Then trình diễn như một diễn
    viên tổng hợp: miệng hát, tay đàn,
    múa, diễn trò minh hoạ cho lời hát,
    chân xóc nhạc,...
    Âm nhạc là yếu tố xuyên suốt, có
    nhiều bài bản, làn điệu được diễn
    tấu trong nghi lễ Then… Trong đó,
    đàn tính và chùm xóc nhạc cùng với
    sự “thăng hoa” của thầy Then đã tạo
    nên tính đa dạng, phong phú của
    âm nhạc và lời hát của Then.

    Em có biết?
     Di sản văn hoá là sản phẩm tinh thần, vật
    chất có giá trị lịch sử – văn hoá, khoa học, được
    lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
     Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh
    thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể
    và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch
    sử – văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của
    cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được
    lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng
    truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các
    hình thức khác.

    Lời ca trong Then phổ biến là thơ bảy chữ, phản ánh đời sống xã hội của cư dân
    Tày, Nùng, chứa đựng nhiều bài học đạo đức thông qua những câu chuyện thần tiên,
    câu chuyện cuộc đời; chứa đựng nhiều tư liệu quý về lịch sử, tư tưởng, phong tục,
    tập quán,...

    1. Tại sao nói “Then là một loại hình trình diễn nghi lễ mang tính tổng hợp”?
    2. Theo em, giá trị đặc sắc của Thực hành Then là gì? Vì sao?

    2. Hát Then – đàn tính của người Tày, Nùng trong đời sống hiện nay
    Nếu Then cổ (Then tâm linh) là các nghi lễ liên quan đến cuộc sống của con
    người, như một phương tiện để truyền tải ước nguyện về sự bình an, hạnh phúc cho
    mỗi cá nhân; gia đình và cộng đồng, được một số ít nghệ nhân và những người làm
    nghề Then lưu giữ, hành nghề, truyền dạy thì Then mới (Then văn nghệ) lại do
    những người am hiểu, yêu thích then đặt lời mới theo giai điệu then cổ với nội dung
    ca ngợi cuộc sống, tình yêu đôi lứa, ca ngợi công ơn của Đảng, của Bác Hồ,... Then
    mới có số lượng người lưu truyền, sáng tác khá đông đảo, được phát triển ở hầu
    khắp các bản làng có người Tày, Nùng sinh sống. Đó là cách để các thế hệ nối tiếp
    nhau đưa hát Then – đàn tính bay xa.
    Những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã khuyến khích thành lập và phát triển các câu lạc bộ
    hát Then – đàn tính.
    Theo thống kê của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn, đến năm 2021, toàn
    tỉnh có gần 100 câu lạc bộ (hoặc nhóm người) được thành lập với mục đích sinh hoạt,

    11

    giao lưu, trao truyền nghệ thuật hát Then − đàn tính. Những tiết mục biểu diễn hát
    Then − đàn tính đã và đang trở thành những tiết mục tiêu biểu, ngày càng chiếm tỉ lệ
    cao trong các chương trình biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quần
    chúng của địa phương.

    Hình 1. Câu lạc bộ hát Then Nộc Khảm Khắc (thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng)

    Chủ đề sáng tác lời mới khá phong phú, trong đó xuyên suốt là mạch nguồn xúc
    cảm về tình yêu quê hương, làng bản: “… Tân Mỹ nơi núi rừng xanh thăm thẳm/Nơi
    nguồn nước trong mát ngày đêm/Bên vườn mận xanh mướt trĩu cành/Cùng vườn hồng, đồi
    cam sai quả/Quê em mười tám thôn đoàn kết/Một lòng đi theo lời Đảng dạy…” (Tân Mỹ
    quê em đổi mới, đặt lời: Chu Thị Đài); là những lời ca gần gũi, phù hợp với cách cảm, cách
    nghĩ của con người trong thời đại mới, tạo được sức hấp dẫn cho thế hệ trẻ: “… Lời Bác
    còn sáng mãi trong lòng/Không có gì quý hơn độc lập, tự do/Người là ánh mặt trời soi
    sáng đường/Nhìn quê nhà đổi mới lòng tràn đầy niềm vui…” (Nhớ ơn Bác Hồ, sáng tác: Vi Tơ);
    là cách thể hiện của người miền núi với lối tư duy theo mạch thẳng, dễ hiểu và
    thân thuộc: “Canh khuya nghe tiếng vọng đại ngàn/Văng vẳng điệu dân ca quê
    mình/Quê mình có Ví, Lượn, Sli, Then/Điệu hát ru muôn đời lưu giữ/Điệu Quan làng trình họ
    mừng cưới/Điệu Phong slư điệu hát gửi trao/Cùng nhau ta chung tay gìn giữ/Kì xuân về
    nhớ tìm câu then/Câu hát Lượn giao duyên bạn nhé…” (Điệu dân ca quê mình, đặt lời:
    Dương Công Tuất);…

    12

    Ngoài ra, các công đoạn chế tác cây đàn tính, phương pháp và thực hành chơi
    đàn tính – loại nhạc cụ không thể thiếu trong hát Then cũng được chú trọng truyền
    dạy, phát triển trở thành nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của người Tày, Nùng,
    góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch, dịch vụ
    tại địa phương.

    Hình 2. Vi Tơ – người nghệ sĩ tâm huyết với cây đàn tính

    Theo dòng chảy thời gian, với sự đổi mới, sáng tạo không ngừng của đồng bào dân
    tộc Tày, Nùng, Then trong đời sống đương đại được “khoác tấm áo mới” bằng những lời
    ca tươi sáng phản ánh cuộc sống ngày nay, tạo nên sự phong phú cho văn hoá dân tộc,
    mở thêm con đường để Then có sức sống lâu bền, trường tồn theo thời gian.

    1. Kể tên một số câu lạc bộ hát Then – đàn tính ở địa phương em và chia sẻ về việc
    đặt lời mới hiện nay.
    2. Em biết gì về cây đàn tính? Kể tên một số nghệ nhân hoặc người chế tác đàn tính
    mà em biết.

    13

    1. Nêu những đặc điểm và giá trị của di sản Thực hành Then.
    2. Trình bày vai trò, ý nghĩa của hát Then − đàn tính trong đời sống.
    3. Em sẽ làm gì để góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản Thực hành Then ở
    Lạng Sơn?

    1. Sưu tầm và giới thiệu về một số chủ đề của lời hát Then mới ở Lạng Sơn
    hiện nay.
    2. Em và các bạn hãy làm một sản phẩm truyền thông về hát Then − đàn tính (bài
    viết, hình ảnh, video clip, poster,...).
    3. Lựa chọn một tác phẩm/đoạn trích hát Then – đàn tính, cùng các bạn luyện tập và
    biểu diễn cho người thân hoặc thầy cô giáo và các bạn thưởng thức.

    14

    LẠNG SƠN TRONG CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN
    CHỐNG XÂM LƯỢC VÀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI TỔ QUỐC
    (TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX)

    3

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Trình bày sơ lược sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Lạng Sơn từ thế kỉ X
    đến giữa thế kỉ XIX.
    ● Trình bày được đóng góp của nhân dân Lạng Sơn trong một số cuộc kháng
    chiến chống xâm lược tiêu biểu của dân tộc cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ
    biên cương Tổ quốc.
    ● Tự hào về truyền thống yêu nước, có ý thức trách nhiệm bảo vệ và xây dựng
    quê hương.

    Em có biết vùng đất Lạng Sơn gắn liền với những chiến công lẫy lừng nào trong đấu
    tranh chống các triều đại phong kiến phương Bắc? Nhân dân các dân tộc ở Lạng Sơn đã
    đoàn kết với nhân dân cả nước, bảo vệ vùng đất biên cương của Tổ quốc như thế nào?

    1. Địa giới, tên gọi Lạng Sơn từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX
    Trong thời kì phong kiến độc lập, vùng đất Lạng Sơn có sự thay đổi về địa giới hành
    chính với các tên gọi khác nhau.





    Thời Đinh, Tiền Lê: Lạng Sơn thuộc châu Lạng của Đại Cồ Việt.
    Thời Lý: châu Lạng được đổi thành lộ với tên gọi Lạng Giang.
    Đầu thời Trần: Lộ Lạng Giang được đổi thành trấn.
    Thời Lê sơ: Thời kì đầu, cả nước được chia thành 5 đạo, vùng đất Lạng Sơn
    là một trấn thuộc Bắc đạo. Đến năm 1466, Lê Thánh Tông chia nước
    thành 12 đạo thừa tuyên, trấn Lạng Sơn được đổi thành thừa tuyên
    Lạng Sơn.
    • Thời Nguyễn: Lạng Sơn là một trấn thuộc Bắc Thành. Năm 1831, vua Minh
    Mạng tiến hành cải cách hành chính, tên gọi tỉnh Lạng Sơn bắt đầu từ đó.
    Vùng đất Lạng Sơn từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX đã trải qua những tên gọi nào?

    15

    2. Nhân dân Lạng Sơn trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ
    biên giới Tổ quốc (từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX)
    a) Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI
    Lạng Sơn nằm trên con đường chính, ngắn nhất từ biên giới Việt – Trung đến kinh
    thành Thăng Long. Trên con đường ấy, ải Chi Lăng là nơi hiểm yếu, thuận lợi cho việc bố
    trí phục binh, chốt hiểm. Nơi đây đã từng ghi dấu những chiến công oanh liệt của quân
    dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc suốt gần mười
    thế kỉ.
    Năm 1075, trước nguy cơ quân Tống chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai, Thái uý
    Lý Thường Kiệt tổ chức một cuộc tập kích vào đất Tống nhằm phá tan các cứ điểm
    Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu của giặc. Đạo quân bộ chủ yếu là người Tày (ở Cao
    Bằng, Lạng Sơn) do Thân Cảnh Phúc chỉ huy phối hợp với quân triều đình tiến thẳng
    sang Ung Châu. Kế hoạch thành công, Lý Thường Kiệt lập tức cho rút quân về nước.
    Trong cuộc chủ động tiến công này, nhân dân Lạng Sơn cùng với các tù trưởng đã đóng
    góp công lớn với triều đình.
    Tư liệu 1. Phò mã Thân Cảnh Phúc, thủ lĩnh châu Quang Lang đóng quân ở động Giáp
    (vùng Kép, Bắc Giang) khống chế đường Lạng Sơn – Thăng Long). Lợi hại nhất là đội
    binh của ông đặt ở đèo Quyết Lý (phía bắc Chi Lăng) và cửa ải Giáp Khẩu (ải Chi Lăng).
    Hỗ trợ cho Thân Cảnh Phúc là quân của các tù trưởng ở mạn Cao Bằng… Chính phó
    tướng giặc là Triệu Tiết cũng phải công nhận Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc
    ở động Giáp đều cầm cường binh. Năm 1077, Quách Quỳ cho quân kéo vào cửa ải Nam
    Quan, đánh vào ải Quyết Lý (Chi Lăng). Phò mã Thân Cảnh Phúc được triều đình giao
    trọng trách chặn đánh giặc từ biên giới Lạng Sơn xuống Chi Lăng đến địa bàn tỉnh Bắc
    Giang. Các cuộc tập kích của đạo quân Thân Cảnh Phúc đã làm cho địch gặp nhiều khó
    khăn trên đường di chuyển.
    (Tỉnh uỷ Lạng Sơn, Địa chí Lạng Sơn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.184)

    Hình 1. Thân Cảnh Phúc − thủ lĩnh
    châu Quang Lang cùng quân, dân
    binh chiến đấu tiêu hao sinh lực địch
    tại Chi Lăng năm 1077 (tranh vẽ)

    16

    Thế kỉ XIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên dưới thời Trần, nhân
    dân các dân tộc Lạng Sơn tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho sự thắng lợi của
    cuộc kháng chiến.
    Tư liệu 2. Nguyễn Lộc hay Nguyễn Thế Lộc là thổ hào Lạng Sơn người dân tộc Tày,
    được vua Trần phong là quản quân ở miền núi. Đầu năm 1258, khi quân giặc tiến
    đến Lạng Sơn đã bị quân ta chặn đánh ở Khâu Ôn (Chi Lăng). Tháng 2 – 1285,
    Thoát Hoan cho người đưa bọn phản bội Trần Kiện về cầu cứu vua Nguyên. Khi
    chúng đến Lạng Sơn đã bị đội dân binh người Tày do hai anh em Nguyễn Thế Lộc và
    Nguyễn Lĩnh chỉ huy bao vây, phục kích tại Ma Lục (Chi Lăng), quá nửa quân địch bị bắt.
    (Tỉnh uỷ Lạng Sơn, Địa chí Lạng Sơn, Sđd, tr. 188)

    Từ cuộc đấu tranh của quân và dân Lạng Sơn đã cho thấy những cái hố bẫy ngựa,
    hay vách núi ở Chi Lăng đều được coi là một trong những kì công sáng tạo trong
    nghệ thuật đánh giặc giữ nước của cha ông. Những địa danh của Lạng Sơn như
    Quỷ Môn Quan, Cấm Địa, Lũng Ngàn, ải Chi Lăng,… đã làm cho quân giặc nhiều phen hồn
    xiêu phách lạc.
    Kết nối với văn học
    Hình ảnh Quỷ Môn Quan – tử địa của quân thù đã
    đi vào thi ca, trong đó có tác phẩm Quỷ Môn Quan
    của Đại thi hào Nguyễn Du:
    Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây,
    Ải chia Nam Bắc chính là đây.
    Tử sanh tiếng đã vang đồng chợ,
    Qua lại người không ngớt tháng ngày.
    Thấp thoáng quỷ đầu nương bóng khói,
    Rập rình cọp rắn núp rừng cây.
    Hình 2. Núi Mặt Quỷ (Quỷ môn)
    (thuộc thôn Quán Thanh, xã Chi Lăng,
    huyện Chi Lăng)

    Bên đường gió lạnh luồng xương trắng,
    Hán tướng công gì kể bấy nay?
    Quách Tấn dịch

    Đầu thế kỉ XVI, dưới ách thống trị của nhà Minh, tại Lạng Sơn đã nổ ra nhiều cuộc
    khởi nghĩa chống quân Minh như khởi nghĩa của Nông Văn Lịch, Hoàng Thiên Hữu,
    Nguyễn Văn Hách, Dương Thế Châu,...
    Năm 1418, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo bùng nổ. Cuối năm 1427,
    nhà Minh cử 10 vạn quân sang tiếp viện, tiến theo đường Lạng Sơn để về Đông Quan.
    17

    Quân ta bố trí trận địa mai phục
    và tập kích quân giặc tại ải Chi
    Lăng, tiêu diệt hàng vạn quân
    tiên phong của giặc, trong đó
    có cả chủ tướng Liễu Thăng.
    Chiến thắng Chi Lăng – Xương
    Giang của ta đã làm cho thế và
    lực của quân giặc hoàn toàn
    suy sụp, lâm vào tình cảnh
    hoang mang, tuyệt vọng.
    Trong trận chiến này, nhiều
    đội dân binh Tày, Nùng trong đó
    có thủ lĩnh Đại Huề đã cùng
    nghĩa quân Lam Sơn lập nhiều
    chiến công.

    Hình 3. Khu di tích lịch sử Chi Lăng

    Em có biết?
    Đại Huề quê ở xóm Lựu, làng Đồng Mỏ (nay thuộc làng Trung, thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi
    Lăng). Ông đã tập hợp nhân dân trong thôn xóm lập ra đội “tuần đinh tuần tráng”. Quân của
    ông là người địa phương, thông thuộc từng hẻm núi dòng khe, nắm rất vững chắc địa hình, tổ
    chức nhiều trận đánh góp công vào thắng lợi Chi Lăng. Vợ và hai con gái của Đại Huề cũng
    trực tiếp phục vụ và tham gia chiến đấu.

    Khai thác tư liệu 1, 2 và thông tin trong mục, em hãy cho biết những đóng góp của
    nhân dân Lạng Sơn trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc từ thế kỉ
    X đến thế kỉ XV.
    b) Lạng Sơn từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX
    Năm 1527, nhà Mạc thành lập, tuy nhiên, các tù trưởng miền núi phía bắc vẫn ủng
    hộ nhà Lê, không theo nhà Mạc. Khi chiến tranh Nam – Bắc triều bùng nổ, cùng với cả
    nước, Lạng Sơn phải chịu cảnh binh lửa và chia cắt.
    Đến thế kỉ XVIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược, các đội quân
    vùng Văn Uyên, Thoát Lãng do phiên thần Nguyễn Đình Vượng chỉ huy đã liên tục tổ
    chức tập kích giặc ở Đoàn Thành, Kỳ Lừa, Hoàng Đồng; phối hợp với quân Tây Sơn chặn
    đánh cánh quân của Tôn Sĩ Nghị rút chạy từ Đoàn Thành đến ải Pha Luỹ, góp phần lập
    nên chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh, bảo vệ vững chắc
    nền độc lập của dân tộc.
    18

    Hình 4. Di tích lịch sử Thành nhà Mạc (thuộc phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn)

    Trong những năm đầu thế kỉ XIX, một số tù trưởng người dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn đã
    nổi lên, câu kết với nhà Thanh đánh phá vùng biên giới. Chính quyền và nhân dân địa
    phương luôn có ý thức và tổ chức canh phòng nghiêm ngặt, giữ vững vùng biên cương.

    Em hãy cho biết những đóng góp của quân và dân Lạng Sơn trong cuộc kháng
    chiến chống xâm lược (từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX).

    1. Lập bảng hệ thống về các cuộc đấu tranh chống phong kiến phương Bắc của
    quân và dân Lạng Sơn từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX theo gợi ý dưới đây:
    STT

    Tên cuộc
    kháng chiến/khởi nghĩa

    Thời gian

    Nhân vật, sự kiện
    liên quan

    1

    ?

    ?

    ?

    2

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    19

    2. Em hãy kể về một chiến thắng có sự đóng góp của quân và dân Lạng Sơn gắn
    liền với di tích lịch sử Chi Lăng. Em cần làm gì để đóng góp vào công cuộc xây
    dựng và bảo vệ quê hương?

    Một người bạn ở xa mong muốn tìm hiểu về lịch sử vùng đất Lạng Sơn. Bằng kiến
    thức đã được học, kết hợp tìm hiểu thông tin trên sách, báo, internet, em hãy viết một
    bức thư (khoảng 20 câu) gửi cho bạn để kể về một chiến công của quân dân Lạng Sơn
    trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX.

    TƯ LIỆU THAM KHẢO

    Chiến thắng Chi Lăng năm 1427
    Đường lên qua ải Chi Lăng
    Trập trùng đỉnh núi nắng vàng nương ngô
    Còn đây xưa bãi chiến trường
    Diệt quân bành trướng Bắc phương thuở nào.
    Ải Chi Lăng đã chứng kiến nhiều chiến công vang dội, trong đó chiến công oanh liệt
    nhất là chiến thắng viện binh của quân Minh năm 1427.
    Tháng 11 − 1426, Vương Thông bị vây hãm trong thành Đông Quan “chí cùng lực tận” nên
    cầu cứu viện binh. Đầu năm 1427, nhà Minh quyết định điều viện binh sang cứu nguy
    cho Vương Thông. Đạo quân viện binh thứ nhất gồm 10 vạn quân và 2 vạn ngựa do An
    Viễn hầu Liễu Thăng làm Tổng binh, Lương Minh làm Phó Tổng binh, Thôi Tụ làm Tham
    tướng bắt đầu từ Quảng Tây tiến sang.
    Bộ chỉ huy của nghĩa quân Lam Sơn chọn ải Chi Lăng làm trận mai phục, đánh đòn
    phủ đầu bất ngờ quân xâm lược. Lực lượng nghĩa quân gồm 2 vạn quân tinh nhuệ trong
    đó có 5 voi chiến, 100 ngựa chiến phục binh, chốt hiểm. Nhân dân Chi Lăng nô nức
    cung cấp lương thực, thực phẩm, giúp nghĩa quân bố trí trận địa.
    Ngày 8 – 10 – 1427, đạo quân của Liễu Thăng đã tiến đến ải Pha Luỹ (Đồng Đăng).
    Tướng Trần Lựu cầm quân giữ ải Pha Luỹ. Theo kế hoạch đã định, quân ta vừa đánh vừa
    giả vờ thua rút về Khâu Ôn (Lạng Sơn). Liễu Thăng tung quân đuổi theo chiếm lấy Khâu Ôn.
    Trần Lựu tiếp tục lui quân về trấn giữ ải Chi Lăng.

    20

    Bất chấp lời can gián của các tướng, mờ sáng ngày 10 – 10 – 1427, Liễu Thăng cầm
    đầu 100 kị mã xông xuống ải Chi Lăng. Kị binh của ta nghênh chiến và giả vờ thua để
    nhử Liễu Thăng và đám kị binh vào ải. Kị binh của Liễu Thăng hăm hở đuổi nên bỏ xa
    hàng vạn quân bộ ở phía sau. Phía nam ải Chi Lăng có ngọn núi Mã Yên, dưới chân núi
    là cánh đồng lầy lội, có cầu bắc qua. Liễu Thăng và đội kị binh vừa qua cầu thì bị sập.
    Đúng lúc đó, súng hiệu nổ, phục binh của ta cùng đội dân binh Chi Lăng do Đại Huề,
    Hoàng Đại Liệu chỉ huy lao ra giết giặc. Từ hai bên sườn núi, những chùm tên và những
    mũi lao vun vút phóng xuống, hơn 100 kị binh bị tiêu diệt, Liễu Thăng bị trúng lao chết
    bên sườn núi Mã Yên. Trong trận chiến đấu này, Đại Liệu đã hi sinh anh dũng.
    Đoàn quân bộ của địch theo sau, bị phục binh của ta từ hai bên sườn núi và lòng
    khe, nhất tề xông ra tiêu diệt. Tin chủ tướng bị giết làm cho quân địch càng thêm hoảng
    loạn, lo sợ. Thừa thắng quân ta tiếp tục chia cắt đội hình địch ra để tiêu diệt.
    “Đội tuần đinh tuần tráng” của Đại Huề trong trận Chi Lăng đã chiến đấu dũng cảm,
    lập nhiều chiến công.
    Trận Chi Lăng là một chiến công của tinh thần yêu nước, tình đoàn kết, ý chí kiên
    cường bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Chi Lăng nói riêng và nhân dân cả
    nước nói chung, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân
    Minh xâm lược.
    (Theo Hoàng Thị Thư – Nguyễn Văn Tuấn, Lịch sử địa phương tỉnh Lạng Sơn,
    NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2010, tr. 46)

    21

    4

    DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HOÁ, DANH LAM
    THẮNG CẢNH TIÊU BIỂU CỦA LẠNG SƠN

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Kể tên được một số di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh tiêu biểu

    của tỉnh Lạng Sơn.
    ● Giới thiệu được ít nhất một di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh

    của Lạng Sơn hoặc địa phương.
    ● Nêu được ý nghĩa, giá trị của các di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng

    cảnh nói chung và đối với sự phát triển du lịch nói riêng ở tỉnh Lạng Sơn.
    ● Xác định được trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ, bảo tồn và phát

    huy giá trị của di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh của quê
    hương xứ Lạng.
    ● Chia sẻ cảm nhận của bản thân sau khi trải nghiệm một di tích lịch sử –

    văn hoá, danh lam thắng cảnh của tỉnh hoặc của địa phương nơi sinh sống.

    Em đã từng được đi tham quan một di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh
    của quê hương Lạng Sơn chưa? Hãy chia sẻ những điều em biết và trải nghiệm về di tích
    lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh đó.

    I. KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HOÁ,
    DANH LAM THẮNG CẢNH CỦA LẠNG SƠN
    Di tích lịch sử – văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, bảo vật quốc
    gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử – văn hoá, khoa học.
    Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa
    cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa học.

    22

    Lạng Sơn là tỉnh nằm ở phía đông bắc của Tổ quốc. Trong lịch sử dựng nước và giữ
    nước, Lạng Sơn là nơi ghi dấu nhiều chiến công chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta,
    hình thành hệ thống di tích lịch sử – văn hoá phong phú và đa dạng như: Khu di tích lịch
    sử C...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG PHỔ THÔNG DTNT THCS & THPT CHI LĂNG, LẠNG SƠN!

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama

    Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng.

    NGƯỜI GIEO MẦM XANH