KHÔNG THỜI GIAN - MỪNG NGÀY QĐNDVN

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

TRANG HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Ảnh ngẫu nhiên

Z5871320865154_324cba5b3dbff25760aa4753f07acc57.jpg Z5871320852161_60103259efd342b7fa8886b79261df51.jpg Z5871320905141_e72e22b8956c925683c316f8856055a8.jpg Z5871320882518_ec80f141e62d75c59adf04c8c899b850.jpg Z5871320867385_6ffce56f742df53de1567b3bc920b578.jpg Z5871320841235_7955bb321c9e728654665d2175e3090a.jpg Z5871320833522_cd114a0f2af7730b59c1cc1fc15e0dda.jpg Z5871320794369_1a8eb7e5771c664e852b353838bdfbc5.jpg Z5871320815521_496edbcc88c66f39c907e78e049b3416.jpg Z5871320810313_e17d8d0121a8d28d820051f11dbf0b11.jpg Z5871320799299_55c969fddb4c37f1f1d421d47e70e9b0.jpg Z5871320794972_f9ec3796ef011d9d059979edb22e2fdb.jpg Z5871320794369_1a8eb7e5771c664e852b353838bdfbc5.jpg Z5871320785370_aabf1ef470d972b9bfc9b5669544d99c.jpg Z5871320781685_9dff5ce4baebd133dc8ed80e2050da9f.jpg Z5871320773939_80651f30d59e3ab197ba59f1cc385368.jpg Z5871320768393_8282d7ce36b224724e235cc014fa5c31.jpg Z5871320765133_affd7ff20d1363c8b70c30bd7db4a5b3.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    LỜI CHÚC HÀNG NGÀY

    BÀI HÁT VỀ QUÂN ĐỘI NDVN

    Tài liệu giáo dục địa phương 6

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Thanh Ngân
    Ngày gửi: 08h:07' 26-12-2024
    Dung lượng: 32.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    1

    Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 6 đều được chỉ
    dẫn bằng một kí hiệu. Thầy cô giáo sẽ hướng dẫn học sinh theo những chỉ dẫn này. Các em
    cũng có thể theo các kí hiệu chỉ dẫn này để tự học.

    !

    2

    Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp
    Trung học cơ sở là nội dung giáo dục bắt buộc, có vị trí tương đương các môn học khác.
    Nội dung tài liệu chứa đựng những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá, lịch sử,
    địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm trang bị cho
    học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng tình yêu và niềm tự hào về quê hương,
    gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; giáo dục sự trân trọng và có ý thức
    giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh địa phương, vận dụng
    những kiến thức và kĩ năng đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của địa
    phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp.
    Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 6 được biên soạn bao gồm khung
    chương trình và tài liệu dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; được thiết kế gồm 9
    chủ đề thuộc 3 cụm lĩnh vực với tổng thời lượng là 35 tiết/năm học. Việc biên soạn tài
    liệu được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan. Nội dung,
    thông tin thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cao; đồng thời bám sát mục tiêu đổi mới
    giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương
    Đảng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh tương ứng với lớp, cấp
    học, giúp cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học tích
    cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tối đa tính tự giác, tích cực,
    sáng tạo của giáo viên và học sinh.
    Nhóm biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 6 là các chuyên gia,
    các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán cấp Trung học cơ sở,
    Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn, giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn.
    Tài liệu đã nhận được sự góp ý của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ quản lí giáo dục,
    giáo viên cấp Trung học cơ sở trong và ngoài tỉnh thông qua các hội nghị, hội thảo;
    đồng thời đã được tổ chức dạy thực nghiệm tại trường Trung học cơ sở trên địa bàn
    tỉnh, được các thầy, cô và học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi và thực tiễn cao.
    Tài liệu đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn thẩm định và Bộ Giáo dục và Đào tạo
    phê duyệt. Đây là Tài liệu Giáo dục địa phương chính thức được sử dụng trong tất cả các
    trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
    Chúc các em học tập tốt và trải nghiệm thật vui!

    3

    Trang
    LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ

    5

    Chủ đề 1. Truyền thuyết xứ Lạng

    5

    Chủ đề 2. Các thể loại âm nhạc truyền thống của Lạng Sơn

    9

    Chủ đề 3. Trang phục truyền thống các dân tộc Lạng Sơn

    15

    Chủ đề 4. Trò chơi dân gian các dân tộc Lạng Sơn

    23

    Chủ đề 5. Vùng đất Lạng Sơn từ thời nguyên thuỷ đến thế kỉ X

    29

    Chủ đề 6. Một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở Lạng Sơn

    40

    LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP

    49

    Chủ đề 7. Vị trí địa lí, giới hạn và sự phân chia hành chính tỉnh Lạng Sơn

    49

    Chủ đề 8. Nghề truyền thống ở Lạng Sơn

    55

    LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG

    65

    Chủ đề 9. Biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai ở tỉnh Lạng Sơn

    65

    4

    VĂN HOÁ, LỊCH SỬ

    1

    TRUYỀN THUYẾT XỨ LẠNG

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Nhận biết được một số yếu tố của truyền thuyết như cốt truyện, nhân vật, cốt lõi
    lịch sử, yếu tố kì ảo,… qua một truyền thuyết tiêu biểu của Lạng Sơn.
    ● Viết được đoạn văn bày tỏ cảm xúc về một nhân vật trong truyền thuyết đã học.
    ● Kể lại được truyền thuyết đã học.
    ● Tóm tắt được một truyền thuyết khác của Lạng Sơn.
    ● Biết yêu quý, trân trọng và có ý thức giữ gìn, lưu truyền truyền thuyết của tỉnh
    Lạng Sơn.

    Quan sát hình ảnh và trả lời câu hỏi:
    Đây là hình ảnh lễ hội nào? Em biết
    gì về lễ hội đó? Lễ hội này có liên quan
    đến truyền thuyết nào?

    CHUẨN BỊ
    Khi đọc truyền thuyết dưới đây, em cần chú ý:
    ‒ Nội dung truyện.
    ‒ Những địa danh gắn với tỉnh Lạng Sơn.
    ‒ Yếu tố kì ảo.
    ‒ Các hiện tượng tự nhiên.
    ‒ Những mong muốn của nhân dân thể hiện trong truyện.
    5

    VĂN BẢN

    SỰ TÍCH HỘI BƯA LỪA(1)
    Ngày xưa, tại Pác Cáp, Văn Mịch(2) có hai vợ chồng làm nghề đánh cá sống hoà thuận,
    thương yêu nhau, vậy mà trên bốn mươi tuổi vẫn không có một mụn con.
    Một đêm, bà vợ nằm mơ về thăm ngoại. Đi được nửa đường mưa to ập đến, sấm
    chớp ầm ầm, một tia sét đánh trúng mạng sườn. Bà giật mình tỉnh giấc và kể lại cho
    chồng nghe. Họ đều cho là điềm lành. Từ đấy bà có thai. Hai vợ chồng vẫn ngày đêm đi
    đánh cá.
    Hôm ấy, họ vẫn đi đánh cá như thường lệ. Mẻ lưới đầu tiên chẳng được con cá nào
    mà chỉ được một quả trứng. Họ ném quả trứng đi thật xa và xuống Hát Quang(3) đánh
    cá. Mẻ lưới thứ hai kéo lên lại vẫn quả trứng ấy. Họ lại ném đi và bơi ngược dòng lên
    Hát Lải(4) kéo lưới. Lạ thay lần này vẫn được quả trứng ấy. Họ nhận ra quả trứng vì có
    một chấm rất đỏ. Hai vợ chồng đem về cho gà ấp thử, một thời gian sau trứng nở ra một
    con rắn có mào đỏ trên đầu, ông bà đánh cá bèn nhận nó là con. Từ ngày ấy mỗi lần đi
    đánh cá họ thường bắt được rất nhiều. Nhờ vậy, chẳng mấy chốc kinh tế gia đình trở
    nên sung túc.
    Bà vợ mang thai đủ tháng, đủ ngày và sinh ra được một cậu con trai. Vì sinh sau rắn
    nên cậu là em. Ngày tháng đi qua, hai anh em càng lớn càng quý mến nhau. Hằng ngày
    bố mẹ đi đánh cá, rắn ở nhà trông em. Một hôm bố mẹ đi đánh cá xa, buổi trưa nóng và
    oi hai anh em rủ nhau ra sông Văn Mịch tắm. Rắn lặn được sâu và bơi được xa hơn. Cậu
    em bơi yếu không dám theo. Rắn càng bơi càng thích thú. Thừa lúc rắn không để ý,
    thuồng luồng xông tới bắt mất cậu em. Vô cùng buồn bã, rắn bò về nhà và chui vào chỗ
    ngủ của mình. Tối đến, bố mẹ về thấy nhà tối om, cứ tưởng hai con mải chơi ở đâu. Vào
    nhà chỉ thấy rắn mà không thấy cậu con trai đâu, bố mẹ hỏi rắn:
    ‒ Em đâu?
    Rắn giàn giụa nước mắt kể lại:
    (1)

    Bưa Lừa: (còn gọi là Phài lừa) bơi bè, chèo bè.

    (2), (3, (4)

    6

    Pác Cáp, Văn Mịch, Hát Quang, Hát Lải: các địa danh thuộc xã Hồng Phong, huyện Bình Gia.

    ‒ Em bị thuồng luồng bắt mất rồi.
    Ông bà đánh cá kêu trời, khóc lóc thương cho số phận hẩm hiu của cậu con trai. Ông
    bà buồn bã chẳng thiết làm gì nữa. Rắn thì càng ngày càng ăn khoẻ, lớn nhanh như thổi.
    Chẳng mấy chốc nó dài và to như cột nhà, mào to như quạt nan đỏ rực. Một bữa ăn của
    rắn bằng ông bà ăn mấy ngày. Vì thế số của cải làm ra chẳng mấy chốc mà hết. Kinh tế
    ngày một cạn kiệt, không nuôi nổi rắn nữa, ông bà phải nói với rắn rằng:
    ‒ Nay bố mẹ đã già yếu và nghèo khó quá không nuôi nổi con nữa. Con hãy tự kiếm
    sống ở nơi nào đó cho đỡ khổ. Nhưng nhớ thỉnh thoảng về nhà thăm bố mẹ.
    Rắn hiểu lòng bố mẹ và rất buồn bởi vừa bị mất em vừa phải xa bố mẹ.
    Dân làng nghe nói ông bà đánh cá có người con bị thuồng luồng bắt, trong nhà lại
    nuôi một con rắn to nên kéo nhau đến chia buồn và xem rắn. Nhìn thấy con rắn to có
    mào đỏ rực họ khẳng định đây là thuồng luồng. Vì thế, dù rất sợ nhưng dân làng vẫn
    reo hò, cầm dao, nhặt đá đuổi rắn đi để khỏi gây tai vạ cho con người. Ngày ấy là ngày
    25 tháng 3 âm lịch, rắn bò ra khỏi nhà và đau đớn vì dân làng không hiểu được mình.
    Buồn bã, rắn đến cây đa to ở Pác Cáp, bò lên ngọn cây treo mình mấy ngày liền làm
    cho dân làng càng sợ hơn. Họ đi mời thầy về yểm bùa. Rắn trườn xuống gốc đa nằm
    một ngày, một đêm. Rạng sáng ngày 4 tháng 4 âm lịch, rắn từ gốc đa trườn xuống
    sông nơi trước đây em trai mình bị thuồng luồng bắt. Rắn vặn mình ba cái và thét lớn rằng:
    ‒ Tao sẽ giết hết chúng mày, lũ thuồng luồng độc ác. Chúng mày đã gieo tai hoạ cho
    con người và làm tao phải vạ lây: bị đuổi, xa cha mẹ.
    Rắn quăng xuống sông bơi ngược, bơi xuôi vào tất cả các hang hốc giết chết tất cả
    thuồng luồng trên dòng sông Văn Mịch, xong rắn về từ biệt mẹ cha, hẹn cứ ba năm về
    thăm một lần rồi xuống sông đi theo dòng ra sông Kỳ Cùng. Từ đó người dân Văn Mịch
    không phải lo sợ thuồng luồng như trước nữa.
    Hai vợ chồng người đánh cá ngày càng già yếu. Vào một ngày nọ, ông bà qua đời
    cùng một lúc. Dân làng chôn ông ở cạnh cây đa Pác Cáp và dựng lên một cái đình gọi là
    Đình Ông, bà vợ được chôn cất bên kia sông và cũng lập một cái đình đối diện gọi là
    Đình Bà.
    Từ đó trở đi cứ năm nhuận vào ngày mồng 4 tháng tư âm lịch, rắn lại về Văn Mịch
    thăm bố mẹ và bà con hàng xóm. Biết ơn rắn đã trừ được thuồng luồng độc ác nên vào
    ngày tháng này bà con Văn Mịch lại tổ chức một lễ hội trọng thể để đón rắn về thăm. Đó
    là hội Bưa Lừa.
    (Theo Nguyễn Duy Bắc, Truyện cổ xứ Lạng, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội,1998)

    7

    Em có biết?

    ● Truyền thuyết Lạng Sơn có hai nhóm tiêu biểu: nhóm truyền thuyết về các vị thần tự
    nhiên (Ông Dài, ông Cộc; Sự tích lễ hội đình Vằng Khắc; Động Song Tiên và Giếng Tiên) và
    nhóm truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm (Tềnh Tổng, Ngõ Thề, Làng Lìu).

    ● Trong văn hoá dân gian, rắn là vật linh được nhân dân thờ với ý nghĩa là biểu tượng của vị
    thần sông nước. Tại Lạng Sơn, tục thờ rắn có ở cộng đồng cư dân nông nghiệp sinh sống
    dọc theo các con sông lớn: sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang,... để cầu mong mưa thuận gió
    hoà, mùa màng bội thu.

    1. Hãy liệt kê những sự việc chính của truyện Sự tích hội Bưa Lừa.
    2. Truyện có nhắc đến những địa danh nào?
    3. Tìm các chi tiết kì ảo trong truyện. Những chi tiết này có tác dụng gì?
    4. Sự việc rắn tiêu diệt hết thuồng luồng trên sông Văn Mịch phản ánh hiện tượng
    tự nhiên và ước mơ gì của nhân dân?

    1. Viết đoạn văn (khoảng 5 ‒ 7 câu) thể hiện cảm nghĩ của em về nhân vật rắn trong
    truyền thuyết Sự tích hội Bưa Lừa.
    2. Kể lại Sự tích hội Bưa Lừa trước lớp.
    3. Lắng nghe, nhận xét nội dung kể, cách kể chuyện của bạn.

    1. Tìm đọc một số truyền thuyết khác được lưu hành ở Lạng Sơn.
    2. Viết đoạn văn (khoảng 10 – 12 câu) tóm tắt lại một truyền thuyết mà em thích.
    Trao đổi về những cảm nhận, suy nghĩ của em khi đọc truyền thuyết đó.

    8

    2

    CÁC THỂ LOẠI ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG
    CỦA LẠNG SƠN

     

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Kể tên được một số thể loại dân ca truyền thống ở Lạng Sơn.
    ● Nhận diện được một số thể loại âm nhạc truyền thống của các dân tộc tỉnh
    Lạng Sơn qua hình ảnh, âm thanh và video clip.
    ● Có ý thức tuyên truyền, gìn giữ và phát huy những thể loại âm nhạc truyền thống
    của Lạng Sơn.

    Em hãy chia sẻ với bạn những điều đã biết về các thể loại âm nhạc truyền thống của
    Lạng Sơn theo các gợi ý sau:
    – Kể tên những thể loại âm nhạc truyền thống ở Lạng Sơn mà em biết. Nêu những
    hiểu biết của em về các thể loại âm nhạc truyền thống đó.
    – Em có thể hát một câu, một đoạn hoặc một bài thuộc các thể loại dân ca đó được không?

    1. Hát Sli
    Sli là lối hát giao duyên và là thể loại dân ca phổ biến của người Nùng tỉnh Lạng Sơn.
    Sli thường được hát theo lối có tổ chức hoặc không có tổ chức trong những dịp mừng
    nhà mới, mừng sinh nhật, ngày tết, ngày hội đầu xuân,... Mỗi nhánh người Nùng có một
    loại Sli, người Nùng Cháo có Sli Slình làng, người Nùng Phàn Slình có Sli Sloong hào,...
    Nội dung lời ca Sli là những bài văn vần, mỗi câu bảy chữ, mỗi bài có từ một đến tám
    câu hoặc dài đến vài trăm câu. Đặc điểm của hát Sli là không cần có nhạc cụ đệm, không
    có vũ đạo kèm theo và hát bất cứ lúc nào, nơi nào, miễn là nơi đó có “đối tượng hát”. Đề
    tài của Sli bao gồm những hiện tượng tự nhiên như ngày, giờ, tháng, năm, mây, mưa,
    trăng, sao, cây cỏ, núi đồi, hay các sự kiện lịch sử, xã hội,... Với nội dung phong phú, đa
    dạng, Sli truyền tải những giá trị nhân văn, hướng thiện, thể hiện bản chất tốt đẹp và
    mang đậm bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc Nùng tỉnh Lạng Sơn.
    Sli của người Nùng Cháo sử dụng hai điệu hát chính để thể hiện, đó là điệu không
    lên giọng và điệu lên giọng. Điệu không lên giọng thường hát ở những bài mở đầu cuộc
    Sli, tính chất mềm mại, tình cảm,… Còn điệu Sli lên giọng nhanh hơn, sôi nổi hơn, giai
    điệu lên xuống có phần phức tạp hơn, thường hát vào giữa cuộc Sli.
    9

    Người Nùng Phàn Slình diễn xướng Sli theo hình thức hai giọng (hai bè) rất đặc biệt.
    Trong cuộc Sli, mỗi bên nam hoặc nữ phải hát hai người hoặc một tốp người. Sli của
    người Nùng Phàn Slình khoẻ khoắn, mạnh mẽ và sôi nổi.

    Hình 1. Hát Sli

    Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Sli có mặt ở 11/11 huyện, thành phố với
    khoảng 50 câu lạc bộ, tổ đội hát Sli. Trong đó có khoảng trên dưới 1 000 nghệ nhân,
    những người đam mê, yêu thích hát Sli tham gia sinh hoạt. Điều đó khẳng định tính hấp
    dẫn, độc đáo của hát Sli và thể hiện sự quan tâm, định hướng của cấp uỷ, chính quyền,
    nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá
    của tỉnh nhà.
    Em có biết?
    Năm 2019, hát Sli của người Nùng tỉnh Lạng Sơn được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa
    vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

    1. Trình bày những hiểu biết của em về hát Sli.
    2. Nêu ý nghĩa của Sli trong đời sống người Nùng ở Lạng Sơn.

    10

    2. Hát Lượn
    Lượn là hình thức diễn xướng dân ca có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh
    thần người Tày. Nội dung chủ yếu trong các bài Lượn là nói lên những tâm tư, tình cảm,
    ca ngợi cuộc sống, ca ngợi lao động sản xuất, ca ngợi thiên nhiên và tình yêu đôi lứa.
    Lượn bao gồm ba loại: Lượn Slương, Lượn Cọi và Lượn Nàng hai. Nếu như Lượn Cọi và
    Lượn Nàng hai có địa bàn chính ở phía tây Việt Bắc thì Lượn Slương lưu hành ở địa bàn
    Lạng Sơn là chính. Vì thế, Lượn Slương có khi còn được gọi là Lượn Lạng.

    Hình 2. Hát Lượn (Nguồn: thegioidisan.vn)

    Hình 2. Hát Lượn

    Lượn Slương (nghĩa là Lượn thương) sử dụng thơ thất ngôn tứ tuyệt (bảy chữ, bốn
    câu). Cuộc Lượn thường được tổ chức trong ngày hội Lồng tồng mùa xuân, hay vào
    những đêm trăng sáng, dịp nông nhàn. Vào cuộc lượn, sau những bài mời của chủ bản,
    chỉ có một đôi trai gái hát đối đáp với nhau, các bài hát đều nhập tâm hoặc ứng khẩu.
    Theo những tài liệu sưu tầm được, sơ bộ có thể chia Lượn Slương làm ba phần: Lượn đi
    đường, Lượn sử và Lượn chúc mừng.
    Đúng như tên gọi, mục đích của cuộc Lượn Slương chủ yếu là bộc bạch niềm
    thương, nỗi nhớ. Cách diễn xướng mang đậm màu sắc độc thoại. Đây là một trong
    những điểm khác biệt của diễn xướng Lượn Slương với diễn xướng các thể loại dân ca
    giao duyên khác. Giai điệu Lượn Slương vừa sâu lắng, trữ tình, vừa nhẹ nhàng, bay bổng,
    chắp cánh cho những lời ca tinh tế, gần gũi, xao xuyến tâm hồn.
    Em có biết?
    Theo nghĩa rộng, Lượn là diễn xướng dân ca của dân tộc Tày, gồm nhiều thể loại: Lượn
    Then, Lượn Quan lang (hát đám cưới), Lượn Phuổi pác (Phuổi pác) và Lượn Phong slư
    (Phong slư). Theo nghĩa hẹp, Lượn là thể loại hát giao duyên của người Tày. Cả hai cách gọi
    đều có ý nghĩa riêng, song phổ biến là cách gọi Lượn theo nghĩa hẹp.

     
    11

    1. Có bao nhiêu thể loại Lượn trong đời sống văn hoá của người Tày?
    2. Nêu thời gian tổ chức và đặc điểm của Lượn Slương.

    3. Hát Then
    Then là một loại hình diễn xướng nghi lễ mang tính tổng hợp các bộ môn nghệ
    thuật dân gian đặc sắc của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái miền núi phía bắc,
    trong đó có tỉnh Lạng Sơn. Then được hát lên vào những dịp trọng đại của làng xã hay
    của từng gia đình như vào dịp năm mới, nhà mới, con đầu lòng. Quanh năm bốn mùa
    xuân – hạ – thu – đông, người ta đều có thể hát Then và làm lễ, đặc biệt là vào mùa xuân.
    Trong không khí linh thiêng, lời ca, điệu múa và âm nhạc hoà quyện rộn ràng, say đắm,
    cuốn hút người nghe, người xem.
    Về mặt nghi lễ, Then chứa đựng những tín ngưỡng, tôn giáo nguyên thuỷ như nghi
    lễ cầu an, cầu mùa,... Về mặt nghệ thuật dân gian, Then được thể hiện sinh động bằng
    lời ca, tiếng nhạc, điệu múa dân gian hết sức phong phú và hấp dẫn.
    Những nhạc cụ và đạo cụ tiêu biểu dùng trong khi diễn xướng Then bao gồm: cây
    đàn tính tẩu (hay tính Then), chùm xóc nhạc. Ngoài ra, quạt giấy và khăn cũng thường
    được sử dụng.

    Hình 3. Hát Then

    Bên cạnh Then nghi lễ thì nghệ thuật hát Then – đàn tính ngày càng được quan tâm
    dàn dựng, biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp, quần chúng. Nội
    dung của các bài Then mới tập trung phản ánh đời sống của xã hội trong giai đoạn mới, ca
    ngợi Đảng, Bác Hồ, tình yêu quê hương, đất nước,… qua đó, góp phần quan trọng vào việc
    gìn giữ, phát huy giá trị di sản văn hoá của đồng bào các dân tộc ở Lạng Sơn trong thời kì hội
    nhập và phát triển hiện nay.
    12

    Em có biết?
    Năm 2019, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) chính thức ghi
    danh Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam vào danh sách Di sản văn hoá
    phi vật thể đại diện của nhân loại.

    1. Then được biểu diễn vào dịp nào?
    2. Việc bảo tồn và phát huy hát Then trong đời sống văn hoá ngày nay ở tỉnh
    Lạng Sơn đã được thực hiện như thế nào?

    4. Hát Páo dung
    Páo dung là diễn xướng dân gian của dân tộc Dao, là phương tiện để truyền tải
    những tâm tư, tình cảm và ước muốn của người Dao trong cuộc sống thường
    ngày. Páo dung thường được hát lên trong những ngày chợ phiên, ngày cưới, hay dịp
    lễ, tết, ngày hội của làng bản. Tương tự như lối hát Sli, Lượn của người Nùng, Tày thì Páo
    dung của người Dao phổ biến với lối hát đối đáp của tốp nam nữ thanh niên.
    Mỗi ngành Dao Lạng Sơn lại có một thể loại Páo dung riêng. Tuy nhiên, dù có khác
    nhau như thế nào thì Páo dung vẫn có đặc điểm chung trong tính chất âm nhạc, đó là
    mang đậm chất trữ tình, du dương, sử dụng nhiều luyến láy, nhiều từ phụ kéo dài như ư,
    ấy, a, ôi,… với nội dung định hướng giáo dục con người hiểu biết cội nguồn, gìn giữ và
    phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Hình 4. Nghệ nhân truyền dạy hát Páo dung cho thế hệ trẻ

    1. Người Dao hát Páo dung trong những dịp nào?
    2. Trình bày đặc điểm của hát Páo dung.

    13

    Hoạt động trải nghiệm: Tìm hiểu một số thể loại âm nhạc truyền thống của tỉnh
    Lạng Sơn
    – Nghe thầy, cô giáo phổ biến nội dung và yêu cầu, nhiệm vụ của học sinh trong buổi trải
    nghiệm tìm hiểu một số thể loại âm nhạc truyền thống của Lạng Sơn.
    – Xây dựng kế hoạch trải nghiệm:
    Gợi ý xây dựng kế hoạch:

    KẾ HOẠCH
    Tìm hiểu một số loại âm nhạc truyền thống của tỉnh Lạng Sơn
    1. Mục đích, yêu cầu:…
    2. Địa điểm trải nghiệm: …
    3. Thời gian: …
    4. Phương tiện đi lại: …
    5. Nội dung chương trình trải nghiệm:
    Tham quan, tìm hiểu tại Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn, Hội Bảo tồn
    dân ca tỉnh Lạng Sơn, các câu lạc bộ đàn hát dân ca ở địa phương hoặc gặp gỡ các nghệ
    nhân, nghệ sĩ tiêu biểu,… Nội dung bao gồm:
    – Các nghệ sĩ, nghệ nhân trao đổi, chia sẻ về một số thể loại âm nhạc truyền thống
    của tỉnh Lạng Sơn.
    – Nghe và xem các nghệ sĩ, nghệ nhân biểu diễn.
    – Học một đoạn hoặc một bài thuộc các thể loại âm nhạc truyền thống của tỉnh
    Lạng Sơn do các nghệ sĩ, nghệ nhân truyền dạy.
    6. Phân công nhiệm vụ
    – Phân công những nội dung cần chuẩn bị trước khi đi trải nghiệm.
    – Phân công những nội dung cần thực hiện sau khi đi trải nghiệm.

    Em hãy sưu tầm và tập thể hiện một số bài hát dân ca của địa phương nơi em
    sinh sống.

    14

    3

    TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG
    CÁC DÂN TỘC LẠNG SƠN

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Nhận biết được trang phục truyền thống của một số dân tộc ở Lạng Sơn (Tày,
    Nùng, Dao, Mông,...) qua kiểu dáng, hoa văn, màu sắc,… trên trang phục của các
    dân tộc đó.
    ● Giới thiệu được về trang phục truyền thống của dân tộc; em hoặc một dân tộc
    thiểu số khác ở địa phương em.
    ● Cảm nhận được vẻ đẹp của trang phục dân tộc; có ý thức trân trọng, gìn giữ và
    có những hành động tôn vinh trang phục truyền thống của tỉnh.

    Em hãy cho biết:
    − Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện nay có những dân tộc nào đang sinh sống?
    − Em đã được thấy trang phục truyền thống của những dân tộc nào? Hãy chia sẻ
    cùng các bạn trong lớp.

    Lạng Sơn, miền địa đầu Tổ quốc là nơi cư trú của các dân tộc Nùng, Tày, Kinh, Dao,
    Sán Chay, Hoa, Mông,... Mỗi dân tộc đều có trang phục truyền thống của riêng mình.
    Trang phục truyền thống là một trong những “dấu hiệu” quan trọng để nhận biết các dân
    tộc khác nhau.

    15

    1. Trang phục dân tộc Tày
    Trang phục truyền thống của dân tộc Tày mang
    vẻ đẹp thuần khiết, bình dị và sâu lắng.
    Thường ngày, nam giới mặc áo chàm ngắn, mở
    cúc, cài khuy vải. Áo cổ tròn dựng đứng với hai
    hoặc bốn túi ở phía trước. Quần là loại đũng chéo,
    ống rộng, dài tới mắt cá chân. Vào các dịp lễ, tết,
    hội hè, họ thường mặc áo dài quá gối, cài khuy về
    bên phải hoặc mặc áo the đen, quần trắng giống
    người Kinh, đầu quấn khăn chàm đen.

    Hình 1. Trang phục nam dân tộc Tày

    Phụ nữ Tày mặc áo dài quá gối, có cổ đứng thấp, cài khuy vải chéo sang nách phải.
    Thân và tay áo may vừa vặn, tôn đường nét hình thể của người phụ nữ. Khi mặc, họ
    dùng thắt lưng quấn ngang eo, thắt mối ở phía sau. Quần có kiểu dáng giống quần nam
    nhưng ống hẹp hơn.
    Em có biết?
    Vải bông nhuộm chàm là nguyên liệu
    dùng để cắt may trang phục của hầu hết
    các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn. Trước
    đây, phụ nữ Tày, Nùng, Dao, Sán Chay
    thường tự trồng bông, dệt vải, cắt may
    quần áo cho các thành viên trong gia
    đình. Trang phục dân tộc thể hiện đức
    tính cần cù, bàn tay khéo léo và thẩm mĩ
    tinh tế của đồng bào các dân tộc tỉnh
    Lạng Sơn.

    Hình 2. Trang phục nữ dân tộc Tày

    Phụ nữ Tày đội khăn vuông gập chéo. Những chiếc vòng cổ, vòng tay, vòng chân và
    dây xà tích bạc có màu trắng sáng nổi bật trên nền chàm đen khiến cho bộ trang phục
    của họ thêm đẹp và sinh động. Trước đây, nam, nữ thường đội nón chóp làm bằng nan
    tre, lá cọ, chân đi giày vải.
    16

    1. Trang phục truyền thống nam dân tộc Tày ở Lạng Sơn có đặc điểm gì?
    2. Đọc nội dung trong mục 1 và quan sát hình 2, em hãy chỉ ra một số đặc điểm
    chính về kiểu dáng, màu sắc trên trang phục nữ dân tộc Tày. Khi mặc trang phục
    dân tộc, phụ nữ Tày thường sử dụng các loại trang sức, phụ kiện nào?

    2. Trang phục dân tộc Nùng
    Người Nùng ở Lạng Sơn gồm có ba nhóm: Nùng Inh, Nùng Phàn Slình và Nùng
    Cháo. Trang phục của các nhóm Nùng vừa mang nét chung của dân tộc mình, vừa
    mang những nét riêng của từng nhóm.
    Áo Nùng nam có kiểu dáng giống như áo Tày nhưng ngắn và ôm khít vào thân, tạo
    đường nét khoẻ khoắn. Hai bên tà áo thường đính các tua chỉ màu xanh, đỏ. Quần của
    họ ngắn, đũng và ống rất rộng. Cạp may ghép bằng vải mộc trắng hoặc vải chàm, cao
    khoảng một gang tay, khi mặc buộc mối ở phía trước.

    Hình 3. Trang phục nam, nữ dân tộc Nùng Phàn Slình, huyện Cao Lộc

    Áo của phụ nữ Nùng gồm có hai loại: áo ngắn và áo dài. Đặc điểm chung của trang
    phục nữ Nùng là cổ áo thường may liền với nẹp, xuôi về nách phải, cài khuy vải. Tay áo
    rộng, ở cổ tay đáp vải màu sẫm hơn hoặc trang trí các đường viền bằng vải màu. Quần
    nữ gần giống với quần nam nhưng cạp ngắn hơn, được may bằng vải cùng màu.
    Đa phần phụ nữ Nùng Phàn Slình mặc áo cổ tròn, thân ngắn, phía dưới xoè rộng. Tà
    áo có các tua chỉ màu. Họ đội khăn đốm trắng hoặc khăn thổ cẩm tự dệt.

    17

    Hình 4. Trang phục nữ dân tộc Nùng Inh

    Em có biết?
    Xuất phát từ nhu cầu may trang phục dân
    tộc mà nghề trồng bông, dệt vải của
    người Nùng trước đây rất phát triển. Từ
    nền trang phục truyền thống, người Nùng
    đã sáng tạo nên những bộ trang phục có
    chất liệu, hoa văn trang trí rất phong
    phú, đa dạng để sử dụng trong đời sống
    hiện nay.

    Hình 5. Nữ dân tộc Nùng Phàn Slình trong
    trang phục áo dài

    Trang phục của người Nùng Cháo và một
    nhóm nhỏ Nùng Phàn Slình gần giống
    trang phục phụ nữ Tày nhưng thân và
    tay áo rộng hơn. Phụ nữ Nùng Inh mặc
    trang phục tương tự nhưng áo chỉ dài
    quá mông một chút.

    Khi mặc trang phục truyền thống, phụ nữ Nùng thường dùng các đồ trang sức
    như: vòng cổ, vòng tay, vòng chân, hoa tai, xà tích, trâm cài tóc,… Vai đeo túi vải
    chàm hoặc túi thêu.

    1. Em hãy cho biết đặc điểm chung của trang phục nữ dân tộc Nùng.
    2. Dựa vào thông tin trong mục 2 và quan sát hình 2, 5, em hãy cho biết áo dài của
    phụ nữ Nùng có điểm gì giống và khác so với áo dài của phụ nữ Tày.

    18

    3. Trang phục dân tộc Dao
    Người Dao ở Lạng Sơn gồm bốn nhóm khác nhau. Trang phục được cắt may, thêu
    thùa rất công phu. Các hoạ tiết hoa văn độc đáo, tinh xảo, có màu sắc rực rỡ nổi bật trên
    nền chàm đen.
    Trang phục nam dân tộc Dao có kiểu dáng gần giống nam dân tộc Tày, Nùng, nhưng
    áo của người Dao Lô Gang có thêm nhiều hoạ tiết hoa văn trang trí ở cổ, túi và lưng. Họ
    đội khăn vải chàm, dây buộc và hai đầu khăn thêu hoa văn rất tỉ mỉ. Quần có đũng thấp,
    ống và cạp đều rộng.

    Hình 6. Hoa văn trên trang phục nam, nữ dân tộc Dao Lô Gang vùng núi Mẫu Sơn

    Phụ nữ Dao mặc áo chàm bốn thân dài gần đến gối, cổ liền với nẹp áo. Khi mặc
    thường bắt chéo hai thân trước lại và dùng thắt lưng để buộc. Đi liền với áo là chiếc yếm
    may bằng vải hoa hoặc vải chàm thêu hoa văn, đính các ngôi sao bạc.

    Hình 7. Trang phục nữ dân tộc Dao Đỏ,
    huyện Tràng Định

    Hình 8. Trang phục nữ dân tộc Dao Coóc Mùn,
    huyện Bình Gia

    19

    Hoa văn trên áo thường tập trung ở cổ, vạt, lưng áo và cổ tay,... Áo nữ Dao Đỏ bao
    giờ cũng đính những quả bông màu đỏ rực ở trước ngực. Quần thêu hoa văn ở ống
    hoặc gấu. Riêng người Dao Thanh Y lại mặc quần cộc. Phụ nữ Dao thường đội khăn
    hoặc mũ vải.
    Hoa văn trên trang phục của người Dao gồm các hình hình học, chữ thập ngoặc cây
    thông, hoa lá, con chim, con chó cách điệu,... Họ dùng rất nhiều hạt cườm có màu sắc
    sặc sỡ kết thành dây, trang trí ở cổ, ngang eo lưng, mũ và tà áo,…
    .

    Hình 9. Hoa văn hình cây thông trên lưng áo nữ dân tộc Dao

    Em có biết?
    Người Dao thường sử dụng kĩ thuật thêu ở mặt trái để hoa văn nổi trên mặt phải. Họ thêu
    theo trí nhớ mà không cần kẻ hay vẽ mẫu sẵn. Ngày nay, trang phục của dân tộc Dao có
    nhiều nét mới. Họ thường thêu bằng len thay cho chỉ màu. Hoa văn trang trí rộng khắp các
    chi tiết của quần áo, trông rất rực rỡ và sống động.

    Trong các dịp lễ, tết, hội hè, người Dao đeo rất nhiều đồ trang sức bằng bạc trắng
    như: khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, nhẫn,... Lưng thường khoác một chiếc túi lưới đen.
    1. Em hãy nêu những đặc điểm chung của chiếc áo truyền thống phụ nữ dân tộc Dao.
    2. Quan sát các hình và khai thác thông tin mục 3, hãy kể tên một số hoa văn trang
    trí trên trang phục của nam, nữ dân tộc Dao.
    3. Nêu nhận xét của em về trang phục của các nhóm Dao ở Lạng Sơn?

    20

    4. Trang phục dân tộc Mông Đen
    Người Mông Đen ở Lạng Sơn có số lượng ít, cư trú ở một số xã vùng cao trong tỉnh.
    Trang phục của họ rất độc đáo và ấn tượng.
    Trang phục nam giới Mông Đen có nhiều nét giống trang phục nam dân tộc Tày
    nhưng áo của họ có cổ bẻ kiểu cổ lá sen mà không dựng đứng. Vào các dịp lễ, tết, cưới
    hỏi, họ đội khăn vải bằng cách chít quanh đầu.

    Hình 10. Trang phục nam dân tộc
    Mông Đen, huyện Tràng Định

    Phụ nữ Mông Đen mặc áo tứ thân ngắn xẻ
    ngực, xẻ tà, may vừa vặn. Áo không đơm cúc mà
    có hai nẹp liền với cổ kéo dài đến hết thân. Ở yếm,
    cổ áo, nẹp, tà áo, tay áo được thêu hoa văn kết
    hợp ghép vải tạo nên màu sắc rất hài hoà, nền nã.
    Váy của phụ nữ Mông Đen được may bằng vải
    lanh đen, có hình nón cụt, xếp nhiều nếp xoè
    rộng. Do váy chỉ ngắn đến đầu gối nên khi mặc
    bao giờ bắp chân cũng quấn xà cạp. Họ đội khăn
    màu chàm đen, quấn nhiều lớp tạo thành vành
    cao trên đầu.

    Hình 11. Trang phục nữ dân tộc
    Mông Đen, huyện Tràng Định

    21

    Em có biết?
    Dân tộc Mông ở Lạng Sơn gồm hai nhánh:
    một nhánh phụ nữ mặc váy lanh đen, còn
    nhánh kia phụ nữa mặc váy lanh trắng. Do
    vậy có tên gọi là Mông Đen và Mông
    Trắng. Trang phục của họ có kiểu dáng cơ
    bản giống nhau, chỉ khác về màu sắc và
    hoa văn trang trí.

    Đồ trang sức phụ nữ Mông Đen
    thường dùng khi mặc trang phục dân
    tộc là vòng cổ, vòng tay bạc; hoa tai
    bằng nhôm có hình lưỡi liềm, dấu hỏi
    hay xoắn ốc,... Mỗi khi bước đi, cùng với
    nếp váy xoè rộng, đồ trang sức đung
    đưa, kêu lanh canh làm cho bộ trang
    phục thêm duyên dáng, sinh động.

    1. Em hãy cho biết, chiếc áo nam dân tộc Mông Đen có chi tiết nào khác biệt so với
    áo của nam dân tộc Tày, Nùng.
    2. Đọc nội dung trong mục 4 và quan sát hình 11, hãy nêu đặc điểm bộ trang phục
    nữ dân tộc Mông Đen ở Lạng Sơn quê hương em.

    1. Hãy đánh dấu x vào ô thích hợp thể hiện thành phần của một bộ trang phục dân
    tộc (nữ) theo bảng gợi ý sau:
    Trang phục
    Quần

    Áo

    Yếm

    Thắt lưng

    Xà cạp

    Khăn/mũ

    Tày

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    Nùng

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    Dao

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    Mông

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    ?

    Dân tộc

    2. Từ cách miêu tả trang phục của dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông Đen trong bài học,
    em hãy giới thiệu bộ trang phục truyền thống của dân tộc em hoặc một dân tộc
    thiểu số khác ở địa phương mà em biết.

    Là học sinh, em cần làm gì để góp phần gìn giữ, tôn vinh giá trị của trang phục
    truyền thống ở địa phương mình?
    22

    4

    TRÒ CHƠI DÂN GIAN
    CÁC DÂN TỘC LẠNG SƠN

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Nhận biết được một số trò chơi dân gian của các dân tộc Lạng Sơn.
    ● Kể tên và giới thiệu được một số trò chơi dân gian của các dân tộc Lạng Sơn.
    ● Có thể thực hành một hoặc một số trò chơi dân gian của các dân tộc Lạng Sơn.

    Quan sát hình ảnh dưới đây và trả lời câu hỏi:
    Đây là hình ảnh của trò chơi nào? Em đã từng tham gia trò chơi này chưa? Hãy chia
    sẻ những hiểu biết của em về trò chơi này.

    Hình 1. Trò chơi dân gian của các dân tộc Lạng Sơn

    23

    Các trò chơi dân gian ở Lạng Sơn rất phong phú như: tung còn (thọt còn), đánh yến
    (tức yến), đi cà kheo (pây mạ điếng), nhảy bao (thiếu pao), kéo co (xẻ thoi), đánh cờ (tức
    cờ, tức kì), đánh khăng (tức khăng), đánh sảng (tức sáng), đánh đáo (tức lọ), chơi ô ăn
    quan (tức chẹt khum, tức chét nà), chơi chắt (tức chét), chơi chuyền (tức thẻ, tức phe), trốn
    tìm (pây thắp, pây đỏ),... Tham gia các trò chơi dân gian giúp cho con người sảng khoái
    về tinh thần, tăng cường sức khoẻ, sự nhanh nhẹn, linh hoạt, sáng tạo trí óc và rèn luyện
    lòng kiên nhẫn, trí thông minh.

    1. Trò chơi tung còn
    Tung còn là một trong những trò chơi đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày, Nùng ở
    Lạng Sơn. Tung còn thường diễn ra trong lễ hội lồng tồng (xuống đồng) – lễ hội truyền
    thống của đồng bào dân tộc Tày, Nùng được tổ chức vào tháng Giêng âm lịch hằng
    năm với mong ước cầu một năm mới mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu.
    Chuẩn bị: Ở giữa thửa ruộng lớn được chọn làm địa điểm lễ hội, người ta dựng một
    cây mai thẳng, cao khoảng 15 –
    20 m làm cây còn. Trên phần
    ngọn của cây còn có một vòng
    tròn gọi là phỏng còn, ở hai bên
    vòng tròn được dán giấy đỏ, một
    bên viết chữ "Nhật", một bên viết
    chữ "Nguyệt". Cây còn được chôn
    sâu xuống đất khoảng 50 – 60
    cm. Đồng bào làm quả còn bằng
    vải, trong đó có hạt bông, hạt
    thóc. Dây còn được làm bằng vải,
    dài khoảng 50 – 60 cm, được khâu

    Hình 2. Trò chơi tung còn

    nối với quả còn. Xung quanh quả
    còn và dây còn, người ta khâu thêm những dây vải ngũ sắc dài khoảng 6 – 7 cm...
    Cách chơi: Mở đầu cuộc chơi, Pú Mo (thầy cúng – người đại diện cho dân làng...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG PHỔ THÔNG DTNT THCS & THPT CHI LĂNG, LẠNG SƠN!

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama

    Những quyển sách làm say mê ta đến tận tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta những lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân thật sống động và nhịp nhàng.

    NGƯỜI GIEO MẦM XANH